Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục có mang tính quy luật?

Giáo dục 24h

Trần Trí Dũng

(GDVN) - Trong quá trình thực hiện, theo quy luật, sự thay đổi về lượng chỉ dẫn tới thay đổi về chất với điều kiện lượng phải được tích lũy tới giới hạn điểm nút.

LTS: Từ khái niệm tính quy luật của phạm trù triết học, thầy giáo Trần Trí Dũng cho rằng đổi mới giáo dục cũng nằm trong quy luật này, và chỉ khi kiên trì đổi mới chủ trương đề ra mới hy vọng đạt được hiệu quả tích cực.

Tòa soạn trân trọng gửi đến độc giả!

Quy luật

Chủ trương đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục liệu có phải là một vấn đề mang tính quy luật, muốn hiểu biết vấn đề này trước hết hãy tìm hiểu về định nghĩa “quy luật”.

Về mặt khoa học, hai chữ quy luật đã xuất hiện trong sách giáo khoa Giáo dục công dân 10, Nhà xuất bản giáo dục năm 2006.

Cụ thể, tại trang 26 chữ "quy luật" được dùng để chỉ tới một hiện tượng tạo ra mâu thuẫn, mà từ đó thúc đẩy sự phát triển. Tuy thế, Sách giáo khoa Giáo dục công dân lại không giải thích hay định nghĩa rõ thế nào là quy luật mà chỉ nêu vấn đề, hiện tượng và gọi tên là quy luật.

Để tìm hiểu về vấn đề này, chúng ta cùng điểm qua những định nghĩa, khái niệm dùng để xác định quy luật.

Cụ thể, Từ điển Việt Nam (Viện ngôn ngữ học, 2004) định nghĩa:

"Quy luật là mối liên hệ bản chất, ổn định được lặp đi lặp lại giữa các hiện tượng trong tự nhiên và xã hội".

Mở rộng vấn đề hơn, Từ điển Bách khoa Việt Nam (Nhà xuất bản từ điển bách khoa, 2003) định nghĩa:

"Quy luật là mối liên hệ khách quan, tất yếu, bản chất, phổ biến được lặp đi lặp lại giữa các hiện tượng".

Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Phùng Xuân Nhạ (Ảnh: giaoduc.net.vn).

Theo đó, có nhiều loại quy luật như quy luật riêng, quy luật chung, quy luật động lực, quy luật thống kê, quy luật tự của nhiên, quy luật của xã hội…

Từ đó, quy luật được xác định cụ thể trên cơ sở của phép biện chứng duy vật, của chủ nghĩa Mác-Lênin mà Sách giáo khoa Giáo dục công dân đã tiếp cận ban đầu.  

Phép biện chứng duy vật là một bộ phận lý luận cơ bản hợp thành thế giới quan và phương pháp luận triết học của Chủ nghĩa Mác-Lênin, là khoa học về mối liên hệ phổ biến và cũng là khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và sự phát triển của tự nhiên, xã hội loài người và tư duy.

Trong chủ nghĩa Mác-Lênin, khái niệm biện chứng dùng để chỉ mối liên hệ, tương tác, chuyển hóa và vận động phát triển theo quy luật của các sự vật, hiện tượng, quá trình trong tự nhiên, xã hội và tư duy.

Phép biện chứng là học thuyết nghiên cứu, khái quát biện chứng của thế giới thành hệ thống các nguyên lý, quy luật khoa học nhằm xây dựng hệ thống các nguyên tắc, phương pháp luận của nhận thức và thực tiễn.

Với ý nghĩa là khoa học của sự liên hệ phổ biến, phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác-Lênin được xác lập trên nền tảng của thế giới quan khoa học.

Trong phép biện chứng duy vật có sự thống nhất giữa nội dung thế giới quan duy vật biện chứng và phương pháp luận biện chứng duy vật, do đó không dừng ở sự giải thích thế giới mà còn là công cụ để nhận thức thế giới và cải tạo thế giới.

Như thế là rất cần thiết để ta làm rõ khái niệm quy luật.

Theo quan niệm của chủ nghĩa Mác-Lênin, quy luật là những mối liên hệ khách quan, bản chất, tất nhiên, phổ biến và lặp lại giữa các mặt, các yếu tố, các thuộc tính bên trong mỗi sự vật hiện tượng hay giữa các sự vật hiện tượng với nhau. (1)         

Ở đây, với tư cách là một khoa học về mối liên hệ phổ biến và sự phát triển, phép biện chứng duy vật nghiên cứu những quy luật chung nhất, tác động trong toàn bộ các lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy của con người.

Đây có phải là triết lý cho Giáo dục Việt Nam?

Trong các quy luật đó, quy luật của xã hội chiếm vị trí và vai trò quan trọng; các quy luật của xã hội và hoạt động có ý thức của con người là không tách rời nhau.

Hoạt động của con người phải xuất phát từ quy luật khách quan của xã hội, còn quy luật của xã hội chỉ được biểu hiện ra thông qua hoạt động của con người.

Quy luật của xã hội vừa là tiền đề, vừa là kết quả hoạt động của con người.

Con người vừa sáng tạo ra lịch sử của mình trong tư duy, lại vừa thể hiện nó trong đời sống hiện thực nên con người vừa là "tác giả" lại vừa là "diễn viên" của vở kịch lịch sử nhân loại của mình.

Theo đó, có ba quy luật phổ biến được nghiên cứu, đó là: quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất và ngược lại; quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập; và quy luật phủ định của phủ định.  

Thứ nhất, quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất và ngược lại.

Theo lý luận của khoa học Mác-Lênin, đây là quy luật cơ bản, phổ biến về phương thức chung của các quá trình vận động, phát triển trong tự nhiên, xã hội và tư duy. Để hiểu rõ nội dung của quy luật này, trước hết ta tìm hiểu khái niệm lượng, chất và mối quan hệ biện chứng giữa chúng.

Khái niệm chất dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật, hiện tượng; là sự thống nhất hữu cơ các thuộc tính cấu thành nó.

Khái niệm chất cho ta sự phân biệt giữa các sự vật, hiện tượng với nhau. Mỗi sự vật hiện tượng đều có những thuộc tính cơ bản và không cơ bản. Chỉ những thuộc tính cơ bản mới hợp thành chất của sự vật, hiện tượng.

Khi những thuộc tính cơ bản thay đổi thì chất của sự vật và hiện tượng cũng thay đổi.

Chất của sự vật, hiện tượng không những được xác định bởi chất của các yếu tố cấu thành, mà còn bởi cấu trúc và phương thức liên kết giữa chúng, thông qua các mối liên hệ cụ thể. Ví dụ, một lớp học sinh chỉ gồm các học sinh giỏi, thì chất của lớp học đó là giỏi.

Khái niệm lượng dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật, hiện tượng về các phương diện: số lượng, yếu tố cấu thành, quy mô của sự tồn tại, tốc độ, nhịp điệu của các quá trình vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng.

Khái niệm chất cũng có thể nói lên những thuộc tính cấu thành nó như: độ lớn (to-nhỏ), quy mô (lớn-bé), trình độ (cao-thấp), tốc độ (nhanh-chậm), màu sắc (đậm-nhạt)…

Khái niệm lượng cho thấy một sự vật hiện tượng có thể tồn tại nhiều loại lượng khác nhau, được xác định bằng các phương thức khác nhau phù hợp với từng loại lượng cụ thể của sự vật hiện tượng đó.

Thí dụ, trong một lớp học sinh có bao nhiêu học sinh giỏi, bao nhiêu học sinh khá và bao nhiêu học trung bình...  cho ta biết mặt lượng của sự vật.     

Bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng là một thể thống nhất giữa hai mặt chất và lượng. 

Hai mặt đó không tách rời nhau mà tác động lẫn nhau một cách biện chứng. Sự thay đổi về lượng tất yếu sẽ dẫn đến sự chuyển hóa về chất của sự vật, hiện tượng. Tuy nhiên, không phải sự thay đổi về lượng bất kỳ nào cũng dẫn đến sự thay đổi về chất.

Thí dụ, khi tăng sĩ số của một lớp học sinh có thể sẽ dẫn đến làm giảm chất lượng học của lớp học sinh đó, do lớp học đông gây ảnh hưởng đến khả năng tiếp thu bài, do đó giảm về chất.   

Ở đây, trong một giới hạn nhất định, sự thay đổi về lượng chưa dẫn tới sư thay đổi về chất. Giới hạn mà sự thay đổi về lượng chưa làm chất thay đổi gọi là độ.

Theo đó, khái niệm độ chỉ tính quy định, mối liên hệ thống nhất giữa chất và lượng, là khoảng giới hạn mà trong đó sự thay đổi về lượng chưa làm thay đổi căn bản chất của sự vật, hiện tượng.

Vì vậy, trong giới của độ, sự vật vẫn còn là nó, chưa chuyển hóa thành sự vật hiện tượng khác.

Sự vận động, biến đổi của sự vật, hiện tượng thường bắt đầu từ sự thay đổi về lượng.

Khi lượng thay đổi đến một giới hạn nhất định sẽ tất yếu những sự thay đổi về chất; giới hạn đó được gọi là điểm nút.

Ở đây, sự thay đổi về lượng khi đạt tới điểm nút, với những điều kiện nhất định tất yếu sẽ dẫn đến sự ra đời của chất mới. Quá trình này được gọi là bước nhảy trong cả tiến trình vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng.

Bước nhảy là sự chuyển hóa tất yếu trong quá trình phát triển của sự vật, hiện tượng. Sự thay đổi về chất diễn ra với nhiều hình thức bước nhảy khác nhau, được quyết định bởi mâu thuẫn, tính chất và điều kiện của mỗi sự vật, hiện tượng. Đó có thể là bước nhảy nhanh, chậm, lớn, nhỏ, cục bộ và toàn bộ, tự phát hay tự giác…

Bước nhảy là sự kết thúc một giai đoạn vận động, phát triển; đồng thời, đó cũng là điểm khởi đầu của giai đoạn phát triển mới, là sự gián đoạn trong quá trình vận động, phát triển liên tục của sự vật hiện tượng.

Trong thế giới luôn luôn diễn ra quá trình biến đổi tuần tự về lượng dẫn đến bước nhảy về chất, tạo ra một đường nút vô tận, thể hiện cách thức vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng từ thấp đến cao.

Khi chất mới ra đời lại có sự tác động trở lại lượng của sự vật, hiện tượng. Chất mới tác động đến lượng của sự vật, hiện tượng trên nhiều phương diện như: làm thay đổi kết cấu, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng.

Vấn đề ở đây là sự vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng là mang tính quy luật.

Cụ thể, theo quy luật này, phương thức chung của các quá trình vận dộng, phát triển là: sự thay dổi về chất của sự vật, hiện tượng có cơ sở tất yếu từ những sự thay đổi về lượng của sự vật, hiện tượng, và ngược lại những sự thay đổi về chất của sự vật, hiện tượng lại tạo ra những biến đổi mới về lượng của sự vật, hiện tượng trên các phương diện khác nhau.

Đó là mối liên hệ tất yếu, khách quan, phổ biến, lặp đi lặp lại trong mọi quá trình vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng thuộc mọi lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy.

Từ nội dung của quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất và ngược lại ta có thể rút ra những ý nghĩa về mặt phương pháp luận trong nhận thức và thực tiễn như sau:

+ Vì bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng có phương diện chất và lượng tồn tại trong tính      

quy định lẫn nhau, tác động và làm chuyển hóa lẫn nhau, do đó, trong nhận thức và thực tiễn khi đánh giá cần phải coi trọng cả hai loại chỉ tiêu về phương diện chất và lượng, tạo nên sự nhận thức hoàn toàn và toàn diện về sự vật và hiện tượng, có ý nghĩa trong quá trình vận động và phát triển.

   + Vì những sự thay đổi về lượng của sự vật, hiện tượng có khả năng tất yếu chuyển hóa hành những thay đổi về chất của sự vật, hiện tượng và ngược lại, do đó, trong hoạt động nhận thức và thực tiễn, tùy theo mục đích cụ thể, cần từng bước tích lũy về lượng để có thể làm thay đổi về chất; đồng thời, có thể phát huy tác động của chất mới theo hướng làm thay đổi về lượng của sự vật, hiện tượng.
   + Vì những sự thay đổi về lượng chỉ có thể dẫn tới những sự thay đổi về chất của sự vật, hiện tượng với điều kiện lượng phải được tích lũy tới giới hạn điểm nút, do đó, trong công tác thực tiễn cần phải khắc phục tư tưởng nôn nóng tả khuynh; mặt khác, theo tính tất yếu quy luật thì khi lượng đã tích lũy đến giới hạn điểm nút sẽ tất yếu có khả năng diễn ra bước nhảy về chất của sự vật hiện tượng.

Vì thế, cũng cần khắc phục tư tưởng bảo thủ hữu khuynh trong công tác thực tiễn. Tả khuynh chính là hành động bất chấp quy luật, chủ quan, duy ý chí, không tích lũy về lượng mà chỉ chú trọng thực hiện những bước nhảy liên tục về chất.

Hữu khuynh là sự biểu hiện tư tưởng bảo thủ, trì trệ, không dám thực hiện bước nhảy, mặc dù lượng đã tích lũy tới điểm nút và quan niệm phát triển chỉ đơn thuần là sự tiến hóa về lượng.

   + Vì bước nhảy của sự vật, hiện tượng là hết sức đa dạng, phong phú, do vậy, trong nhận thức và thực tiễn cần phải có sự vận dụng linh hoạt các hình thức của bước nhảy cho phù hợp với từng điều kiện, từng lĩnh vực cụ thể.

Đặc biệt, trong đời sống xã hội, quá trình phát triển không chỉ phụ thuộc vào các điều kiện khách quan, mà còn phụ thuộc vào nhân tố chủ quan của con người, do đó, cần phải nâng cao tính tích cực, chủ động của chủ thể để thúc đẩy quá trình chuyển hóa từ lượng đến chất một cách hiệu quả nhất.

Thứ hai, quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập.

Quy luật này được xem là "hạt nhân" của phép biện chứng (2). Đó là quy luật về nguồn gốc, động lực cơ bản, phổ biến của mọi quá trình vận động và phát triển.

Theo đó, nguồn gốc và động lực cơ bản, phổ biến của mọi quá trình vận động, phát triển chính là mâu thuẫn khách quan, vốn có của sự vật, hiện tượng.

Nhân tố tạo nên mâu thuẫn là các mặt đối lập.

Theo đó, mỗi sự vật, hiện tượng cũng như giữa các sự vật, hiện tượng này với sự vật hiện tượng khác trong thế giới có vô vàn những mặt đối lập nhau.

Khái niệm mặt đối lập trong phép biện chứng duy vật ở đây được hiểu là dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính, những khuynh hướng vận động trái ngược nhau nhưng đồng thời lại là điều kiện, tiền đề để tồn tại của nhau.

Ví dụ, điện tích âm và điện dương trong một nguyên tử, đồng hóa và dị hóa trong một cơ thể sống, giai cấp vô sản và giai cấp tư sản trong chủ nghĩa tư bản...

Như thế, bản chất của quy luật được tạo nên từ mâu thuẫn, do đó ta cần hiểu khái mâu thuẫn trong phép duy vật biện chứng là thế nào.

Trong phép biện chứng, khái niệm mâu thuẫn dùng để chỉ mối liên hệ thống nhất, đấu tranh và chuyển hóa giữa các mặt đối lập của mỗi sự vật, hiện tượng hoặc giữa các sự vật, hiện tượng với nhau.

Mâu thuẫn có tính khách quan và tính phổ biến trong các sự vật và hiện tượng.

Mâu thuẫn còn có tính đa dạng và phong phú được biểu hiện ở chỗ: mỗi sự vật, hiện tượng, quá trình đều có thể bao hàm nhiều loại mâu thuẫn khác nhau, biểu hiện khác nhau trong những điều kiện lịch sử, cụ thể khác nhau và chúng giữ vị trí, vai trò khác nhau đối với sự tồn tại, vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng.

Hay trong các lĩnh vực khác nhau cũng tồn tại những mâu thuẫn với những tính chất khác nhau và đã tạo nên tính phong phú trong sự biểu hiện của mâu thuẫn. Đó có thể là mâu thuẫn bên trong và bên ngoài, cơ bản và không cơ bản, chủ yếu và thứ yếu...

Theo dẫn luận đó, trong một mâu thuẫn, các mặt đối lập vừa thống nhất với nhau, vừa đấu tranh với nhau.

Ở đây, khái niệm thống nhất của các mặt đối lập dùng để chỉ sự liên hệ, ràng buộc, không tách rời nhau, quy định lẫn nhau, mặt này lấy mặt kia làm tiền đề để tồn tại. Sự thống nhất giữa các mặt đối lập ở đây cũng bao hàm sự đồng nhất của chỉnh thể đó.

Ví dụ, trong sự mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản luôn có sự thỏa thuận lao động với nhau nhưng giai cấp tư sản có thể đưa ra những quy định áp đặt đối với giai cấp vô sản và lấy đó làm tiền đề để tồn tại, và cả hai đều thống nhất trong một chỉnh thể là hình thái kinh tế xã hội tư bản chủ nghĩa...

Khái niệm đấu tranh của các các mặt đối lập dùng để chỉ khuynh hướng tác động qua lại, bài trừ, phủ định nhau của các mặt đối lập.

Theo đó, hình thức đấu tranh của các mặt đối lập rất phong phú, đa dạng, tùy thuộc vào tính chất, mối quan hệ và điều kiện cụ thể của sự vật, hiện tượng, khi đó, quá trình thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập tất yếu dẫn đến sự chuyển hóa giữa chúng.

Sự chuyển hóa này diễn ra rất phong phú, đa dạng và tùy thuộc vào tính chất của các mặt đối lập cũng như tùy thuộc vào những điều kiện kịch sự, cụ thể.  

Trong sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập thì sự đấu tranh là tuyệt đối, còn sự thống nhất là tương đối, có điều kiện và tạm thời; ở đây, trong sự thống nhất đã có sự đấu tranh, đấu tranh trong tính thống nhất.

Sự tác động qua lại dẫn đến chuyển hóa giữa các mặt đối lập là một quá trình.

Lúc mới xuất hiện, mâu thuẫn được thể hiện ở sự khác biệt và phát triển nhanh thành hai mặt đối lập. Khi mặt đối lập của mâu thuẫn xung đột với nhau gay gắt và khi điều kiện đã chín muồi thì chúng sẽ chuyển hóa lẫn nhau, mâu thuẫn được giải quyết.

Nghiên cứu đáng chú ý của thầy Trần Trí Dũng về mô hình trường học mới - VNEN

Khi đó, mâu thuẫn cũ mất đi, mâu thuẫn mới được hình thành và quá trình tác động, chuyển hóa giữa hai mặt đối lập lại tiếp diễn, làm cho sự vật, hiện tượng luôn luôn vận động và phát triển.

Bởi vậy, sự liên hệ, tác động và chuyển hóa giữa các mặt đối lập là nguồn gốc, là động lực của sự vận động và phát triển trong thế giới.

Từ nội dung của quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập, ta có thể rút ra những ý nghĩa trong  nhận thức và thực tiễn.

Cụ thể: vì mâu thuẫn có tính khách quan, tính phổ biến và là nguồn gốc, động lực của sự vận động, phát triển nên trong nhận thức và thức tiễn cần phải tôn trọng mâu thuẫn, phát hiện mâu thuẫn, cần có sự phân tích đầy đủ các mặt đối lập để nắm được bản chất, nguồn gốc, khuynh hướng của sự vận động và  phát triển.

Vì mâu thuẫn có tính đa dạng, phong phú, do vậy trong việc nhận thức và giải quyết mâu thuẫn cần phải có quan điểm lịch sử mang tính cụ thể, tức là biết phân tích cụ thể từng loại mâu thuẫn và từ đó có phương pháp giải quyết phù hợp.

Trong quá trình hoạt động nhận và thức và thực tiễn, cần phân biệt đúng vai trò, vị trí của các loại mâu thuẫn trong từng hoàn cảnh, điều kiện nhất định, phân biệt những đặc điểm của mâu thuẫn đó để tìm ra phương pháp giải quyết từng loại mâu thuẫn một cách đúng đắn nhất.   

Thứ ba, quy luật phủ định của phủ định.

Đây là quy luật về khuynh hướng cơ bản, phổ biến của mọi vận động và phát triển diễn ra trong các lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy của sự; đó là khuynh hướng vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng thông qua những lần phủ định biện chứng, tạo thành hình thức mang tính chu kỳ "phủ định của phủ định".

Vậy, phủ định ở đây là gì?

Ta thấy, thế giới luôn vận động và phát triển không ngừng, vô cùng và vô tận.

Mọi sự vật, hiện tượng sinh ra, tồn tại, phát triển rồi mất đi, được thay thế bằng sự vật hiện tượng khác; thay thế hình thái tồn tại này bằng hình thái tồn tại khác của cùng một sự vật, hiện tượng trong quá trình vận động, phát triển.

Sự thay thế đó gọi là sự phủ định.

Mọi quá trình vận động và phát triển trong các lĩnh vực tự nhiên, xã hội hay tư duy đều diễn ra thông qua những sự phủ định, trong đó có những sự phủ định chấm dứt sự phát triển, nhưng cũng có những sự phủ định tạo ra điều kiện, tiền đề cho cho quá trình phát triển của sự vật, hiện tượng, được gọi là sự phủ định biện chứng.

Sự phủ định biện chứng có tính khách quan vì nguyên nhân của sự phủ định nằm trong trong chính bản thân sự vật, hiện tượng; nó là kết quả của quá trình đấu tranh giải quyết mâu thuẫn tất yếu, bên trong sự vật, hiện tượng; tạo khả năng ra đời của cái mới thay thế cái cũ, nhờ đó tạo nên xu hướng phát triển của chính bản thân nó.

Vì thế, phủ định biện chứng còn được gọi là tự thân phủ định.   

Sự phủ định biện chứng mang tính kế thừa, đó là kế thừa những nhân tố hợp quy luật và loại bỏ nhân tố trái quy luật.

Phủ định biện chứng không phải là sự phủ định sạch trơn cái cũ, mà trái lại trên cơ sở những hạt nhân hợp lý của cái cũ để phát triển thành cái mới, tạo nên tính liên tục của sự phát triển.

Qua đó cái mới hình thành và phát  triển tự thân, thông qua quá trình lọc bỏ những mặt tiêu cực, lỗi thời và giữ lại những nội dung tích cực.

Phủ định biện chứng là khuynh hướng tất yếu của mối liên hệ bên trong giữa cái cũ và cái mới, là sự tự khẳng định của các quá trình, vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng.

Trong sự vận động vĩnh viễn của thế giới vật chất, phủ định biện chứng là một quá trình vô tận, tạo nên khuynh hướng phát triển của sự vật, hiện tượng từ trình độ thấp đến trình độ cao hơn, diễn ra có tính chất chu kỳ theo hình thức "xoáy ốc".

Theo đó, trong chuỗi phủ định tạo nên quá trình phát triển của sự vật, hiện tượng, mỗi lần phủ định biện chứng đều tạo ra những điều kiện, tiền đề cho sự phát triển tiếp theo của sự vật, hiện tượng đó.

Trải qua nhiều lần phủ định, tức "phủ định của phủ định" sẽ tất yếu dẫn đến kết quả là sự vận động theo chiều hướng đi lên của sự vật, hiện tượng.

Ở đây, tính chất chu kỳ của các quá trình phát triển thường diễn ra theo hình thức "xoáy ốc", đó cũng là tính chất "phủ định của phủ định".

Theo tính chất này, mỗi chu kỳ phát triển của sự vật hiện tượng thường trải qua hai lần phủ định cơ bản với ba hình thái tồn tại chủ yếu của nó, trong đó hình thái cuối mỗi chu kỳ lặp lại những đặc trưng cơ bản của hình thái ban đầu chu kỳ đó nhưng trên cơ sở cao hơn cao hơn về trình độ phát triển, nhờ kế thừa được những nhân tố tích cực và loại bỏ được những nhân tố tiêu cực qua hai lần phủ định biện chứng.

Trong quy luật phủ định của phủ định, khuynh hướng phát triển theo đường xoáy ốc thể hiện tính chất biện chứng của sự phát triển, đó là tính kế thừa, tính lặp lại và tính tiến lên.

Mỗi vòng mới của đường xoáy ốc dường như lặp lại, nhưng với trình độ cao hơn.

Sự tiếp nối của các vòng trong đường xoáy ốc phản ánh quá trình phát triển vô tận từ thấp đến cao của sự vật, hiện tượng trong thế giới.

Trong quá trình phát triển của sự vật, hiện tượng, phủ định biện chứng đã đóng vai trò là những vòng khâu của quá trình đó.   

Từ nội dung quy luật phủ định của phủ định, ta có thể đúc rút ra những ý nghĩa trong nhận thức và thực tiễn. Cụ thể:

   + Quy luật phủ định của phủ định là cơ sở của nhận thức đúng đắn về xu hướng vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng.

Quá trình đó không diễn ra theo con đường thẳng mà là con đường quanh co, phức tạp, gồm nhiều giai đoạn, nhiều quá trình khác nhau.

Tuy nhiên, tính đa dạng và phức tạp của quá trình phát triển chỉ là chỉ là sự biểu hiện của khuynh hướng chung, đó là khuynh hướng tiến lên theo quy luật.

Do đó, cần phải nắm được  đặc điểm, bản chất, các mối liên hệ của sự vật, hiện tượng để tác động tới sự phát triển, phù hợp với yêu cầu của hoạt động nhận thức, biểu hiện thế giới quan và nhân sinh quan cách mạng trong mọi hoạt động và trong thực tiễn.

Từ đó, khẳng định niềm tin vào xu hướng tất yếu là phát triển tiến lên của cái tiến bộ, đó là biểu hiện của thế giới quan khoa học và nhân sinh quan cách mạng.

   + Theo quy luật phủ định của phủ định, trong thế giới khách quan, cái mới tất yếu phải ra đời để thay thế cái cũ.

Trong tự nhiên, cái mới ra đời và phát triển theo quy luật khách quan.

Trong đời sống xã hội, cái mới ra đời trên cơ sở hoạt động có mục đích, có ý thức tự giác và sáng tạo của con người.

Vì vậy, cần nâng cao tính tích cực của nhân tố chủ quan trong mọi hoạt động, có niềm tin vào sự tất thắng của cái mới, ủng hộ cái mới và đấu tranh để cho cái mới thắng lợi. Do đó, cần khắc phục tư tưởng bảo thủ, trì trệ, giáo điều, kìm hãm sự phát triển của cái mới, làm trái với quy luật phủ định của phủ định.

    + Quan điểm biện chứng về sự phát triển đòi hỏi trong quá trình phủ định cái cũ phải theo nguyên tắc kế thừa có phê phán; kế thừa những nhân tố hợp quy luật và lọc bỏ, vượt qua, cải tạo cái tiêu cực, trái quy luật nhằm thúc đẩy sự vật, hiện tượng phát triển theo hướng tiến bộ.          

Nhận xét. Trong sự phát triển của đời sống xã hội và hoạt động thực tiễn, mọi sự vật, hiện tượng đều phát triển thep các quy luật khách quan. Mọi chủ trương, quyết sách cũng  phải tuân theo các quy luật này.

Nếu tuân theo đúng các quy luật khách quan thì đó là sự phát triển hợp lý và tiến bộ, ngược lại nếu không theo quy luật khách quan sẽ dẫn không có tính khả thi và bị triệt tiêu.    

Sự đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục có phải là vấn đề mang tính quy luật?

Năm 2011 có một bước chuyển mới trong giáo dục, khi mà Đại hội Đảng toàn quốc khai mạc vào mùa xuân trong đó có đề cập việc đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục.

Tiếp bước lộ trình, năm 2013, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã tiến hành Hội nghị Trung ương lần thứ 8 với chủ điểm đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục.

Theo đó, hội nghị lần thứ 8 đã ban hành Nghị quyết số 29 về chủ trương đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục.

Tính đến nay đã được 4 năm, khi mà Nghị quyết số 29 đi vào thực tiễn.

Tuy nhiên, giáo dục Việt Nam vẫn chưa có một bước chuyển đáng kể nào được gọi là theo chủ trương đổi mới căn bản và toàn diện về giáo dục.

Chính vì thế, cần thiết phải xem lại chủ trương này một cách khách quan và toàn diện, đặc biệt là xem xét liệu có tuân theo đúng với các quy luật khách quan hay không.   

Trước hết, nói về sự cần thiết phải đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục.

Theo báo cáo Đề án "Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế" của Ban cán sự đảng Chính phủ trình Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương (khóa XI) thì sự cần thiết phải đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục dựa trên các lí do sau đây:

1. Qua ba lần cải cách và quá trình đổi mới những năm gần đây, giáo dục Việt Nam (bao gồm cả đào tạo, sau đây gọi chung là giáo dục) đã đạt được nhiều thành tựu, góp phần quan trọng vào thắng lợi của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Tuy nhiên, giáo dục đã bộc lộ những yếu kém, bất cập, trong đó có những vấn đề gây bức xúc xã hội kéo dài. Nhiều chính sách, cơ chế, giải pháp về giáo dục có hiệu quả trong giai đoạn vừa qua, nay đã không còn phù hợp, cần được điều chỉnh.

2. Yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, đặc biệt là yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo chiều sâu và cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng chất lượng, hiệu quả, có sức cạnh tranh cao đòi hỏi giáo dục phải đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng của người dân, nhanh chóng góp phần tạo ra đội ngũ nhân lực chất lượng cao.

Nếu không đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo thì nhân lực sẽ là yếu tố cản trở sự phát triển của đất nước.

3. Nước ta đang trong quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng; sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ, khoa học giáo dục và sự cạnh tranh quyết liệt trên nhiều lĩnh vực giữa các quốc gia đòi hỏi giáo dục phải đổi mới.

Thực chất cạnh tranh giữa các quốc gia hiện nay là cạnh tranh về nguồn nhân lực và về khoa học và công nghệ. Xu thế chung của thế giới khi bước vào thế kỷ XXI là các nước tiến hành đổi mới mạnh mẽ hay cải cách giáo dục.

Bên cạnh đó, tại Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng đã phát biểu:

"... đến nay giáo dục và đào tạo nước ta vẫn chưa thực sự trở thành quốc sách hàng đầu, động lực quan trọng nhất cho phát triển; thậm chí còn không ít hạn chế, yếu kém, nhất là về chất lượng giáo dục - đào tạo; công tác quản lý và cơ chế tạo nguồn lực và động lực cho phát triển.

Để có thể cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020, nước ta đang đứng trước yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh dựa nhiều hơn vào yếu tố năng suất tổng hợp (TFP) và kinh tế tri thức.

Sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong thời đại toàn cầu hoá, phát triển nhanh chóng của khoa học - công nghệ đòi hỏi và cũng tạo điều kiện để nước ta đẩy mạnh toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực có chất lượng, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao.

Những kết quả, thành tựu đã đạt được về quy mô, nguồn nhân lực và cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có cũng cho phép chúng ta chuyển sang giai đoạn phát triển mới, cao hơn về chất. Đó chính là lý do giải thích vì sao Đại hội XI của Đảng đề ra chủ trương phải đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo".

Từ những căn cứ trên đây, có thể nhận thấy chủ trương đổi mới căn bản và toàn diện của Đảng ta là có cơ sở đúng quy luật.

Thứ nhất, với định hướng chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lĩnh vực giáo dục và đào tạo nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng, góp phần to lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Cụ thể là: đã xây dựng được hệ thống giáo dục và đào tạo tương đối hoàn chỉnh từ Mầm non đến Đại học.

Cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục, đào tạo được cải thiện rõ rệt và từng bước hiện đại hóa. Số lượng học sinh, sinh viên tăng nhanh, nhất là ở giáo dục Đại học và giáo dục nghề nghiệp.

Chất lượng giáo dục và đào tạo có tiến bộ. Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục phát triển cả về số lượng và chất lượng, với cơ cấu ngày càng hợp lý. Chi ngân sách cho giáo dục và đào tạo đạt mức 20% tổng chi ngân sách Nhà nước.

Xã hội hóa giáo dục được đẩy mạnh; hệ thống giáo dục và đào tạo ngoài công lập góp phần đáng kể vào phát triển giáo dục và đào tạo chung của toàn xã hội. Công tác quản lý giáo dục và đào tạo có bước chuyển biến nhất định.

Cả nước đã hoàn thành mục tiêu xoá mù chữ và phổ cập giáo dục Tiểu học vào năm 2000; phổ cập giáo dục Trung học Cơ sở vào năm 2010; đang tiến tới phổ cập giáo dục Mầm non cho trẻ 5 tuổi; củng cố và nâng cao kết quả xoá mù chữ cho người lớn.

Cơ hội tiếp cận giáo dục có nhiều tiến bộ, nhất là đối với đồng bào dân tộc thiểu số và các đối tượng chính sách; cơ bản bảo đảm bình đẳng giới trong giáo dục và đào tạo.

Những thành tựu và kết quả nói trên, trước hết bắt nguồn từ truyền thống hiếu học của dân tộc; sự quan tâm, chăm lo của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, của mỗi gia đình và toàn xã hội; sự tận tụy của đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; sự ổn định về chính trị cùng với những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Như thế, với những kết quả, thành tựu đã đạt được về quy mô, nguồn nhân lực và cơ sở vật chất kỹ thuật giáo dục hiện có thì đây chính là quy mô phát triển về mặt lượng, hiểu theo mặt lượng trong quy luật chuyển hóa từ những sự thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất và ngược lại.

Từ đó đặt cơ sở phát triển về chất là phải đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục. 

Thứ hai, tuy nhiên chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo còn thấp so với yêu cầu, nhất là giáo dục Đại học, giáo dục nghề nghiệp.

Hệ thống giáo dục và đào tạo thiếu liên thông giữa các trình độ và giữa các phương thức giáo dục, đào tạo; còn nặng lý thuyết, nhẹ thực hành. Đào tạo thiếu gắn kết với nghiên cứu khoa học, sản xuất, kinh doanh và nhu cầu của thị trường lao động; chưa chú trọng đúng mức việc giáo dục đạo đức, lối sống và kỹ năng làm việc.

Phương pháp giáo dục, việc thi, kiểm tra và đánh giá kết quả còn lạc hậu, thiếu thực chất.

Quản lý giáo dục và đào tạo còn nhiều yếu kém. Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục bất cập về chất lượng, số lượng và cơ cấu; một bộ phận chưa theo kịp yêu cầu đổi mới và phát triển giáo dục, thiếu tâm huyết, thậm chí vi phạm đạo đức nghề nghiệp.

Đầu tư cho giáo dục và đào tạo chưa hiệu quả. Chính sách, cơ chế tài chính cho giáo dục và đào tạo chưa phù hợp. Cơ sở vật chất kỹ thuật còn thiếu và lạc hậu, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.

Với tình hình đó đã tạo ra các mặt đối lập trong mâu thuẫn. Đó là mâu thuẫn bên trong giữa sự hạn chế yếu kém của hệ thống giáo dục với quy mô phát triển mang tính chiến lược.

Mâu thuẫn bên ngoài với sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ, khoa học giáo dục và sự cạnh tranh quyết liệt trên nhiều lĩnh vực giữa các quốc gia trên thế giới, mà thực chất cạnh tranh giữa các quốc gia hiện nay là cạnh tranh về nguồn nhân lực và về khoa học và công nghệ.

Đó chính là cơ sở và tiền đề để giải quyết mâu thuẫn tuân theo quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập, tạo tiền đề cho nhu cầu đổi mới và phát triển.    

Thứ ba, cũng chính từ hai cơ sở trên mà cần thiết phải đổi mới, phủ định cái cũ để thiết lập cái mới phát triển cao hơn về chất.

Vì sao Bộ tiếp tục đổi mới kỳ thi quốc gia?

Ở đây, sự phủ định là khuynh hướng tất yếu của mối liên hệ bên trong giữa cái cũ và cái mới, là sự tự khẳng định của các quá trình, vận động, phát triển của nền giáo dục.

Do đó, đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục là tuân theo quy luật phủ định của phủ định trong phép biện chứng duy vật của Chủ nghĩa  Mác-Lên nin.

Vấn đề ở chỗ là trong quá trình thực hiện, theo quy luật, những sự thay đổi về lượng chỉ có thể dẫn tới những sự thay đổi về chất với điều kiện lượng phải được tích lũy tới giới hạn điểm nút.

Do đó, trong công tác thực tiễn cần phải khắc phục tư tưởng nôn nóng tả khuynh; mặt khác, theo tính tất yếu quy luật thì khi lượng đã tích lũy đến giới hạn điểm nút sẽ tất yếu có khả năng diễn ra bước nhảy về chất.

Vì thế, cũng cần khắc phục tư tưởng bảo thủ hữu khuynh trong công tác thực tiễn. Tả khuynh chính là hành động bất chấp quy luật, chủ quan, duy ý chí, không tích lũy về lượng mà chỉ chú trọng thực hiện những bước nhảy liên tục về chất.

Hữu khuynh là sự biểu hiện tư tưởng bảo thủ, trì trệ, không dám thực hiện bước nhảy, mặc dù lượng đã tích lũy tới điểm nút và quan niệm phát triển chỉ đơn thuần là sự tiến hóa về lượng.    

Vì bước nhảy là hết sức đa dạng, phong phú, do vậy, cần phải có sự vận dụng linh hoạt các hình thức của bước nhảy cho phù hợp với từng điều kiện, từng ngành học và cấp học cụ thể của giáo dục.

Do đó cần phải nâng cao tính tích cực, chủ động của chủ thể giáo dục để thúc đẩy quá trình chuyển hóa từ lượng đến chất một cách hiệu quả nhất.

Với những ý nghĩa trên đây, chúng tôi hy vọng rằng chủ trương đổi mới căn bản và toàn diện của Đảng và Nhà nước sẽ đem lại hiệu quả mới tích cực cho nền giáo dục Việt Nam và thành công tốt đẹp.                           

Tài liệu tham khảo:

Giáo trình những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác-Lênin. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia. 2011.(trang 88, 95).  

Giáo trình chính trị. Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, 2011.

Sách giáo khoa Giáo dục công dân 10. Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam, 2006.

Từ điển Tiếng Việt, Viện ngôn ngữ học. Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2004.

Từ điển Bách khoa Việt Nam. Nhà xuất bản từ điển bách khoa, 2003.  

Văn kiện Đại hội Đảng và Hội nghị, Đảng cộng sản Việt Nam khóa XI.

Trần Trí Dũng
Từ khóa :
đổi mới căn bản , toàn diện , giáo dục , tính quy luật
Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục có mang tính quy luật?
Chủ đề : Đổi mới Giáo dục
Viết bình luận của bạn về bài viết này ...
trần công dân
6

Đổi mới giáo dục, nghe thấy hơi lạ tai. Ta đi sau thế giới hàng 100 năm về mọi vấn đề. Học theo còn chưa song thì đổi nới cái gì của giáo dục? nên chăng giáo dục của ta nên bỏ cái không phải là giáo dục, bỏ những cái XH không cần...học những cái để làm việc, sáng tạo. Học những cái thế giới đang học, làm những cái thế giới đang làm, đừng sáng tạo, đổi mới gì nữa dân ta khổ lắm rồi.

ásffsfsd
3

Mấy ông nhà báo, kiến thức không nhiều đi cóp lại những cái tổng qua rồi viết mà không hiểu đầy đủ của hai mặt vấn đề. Chỉ làm cho người ta thêm buồn cười. Với tôi đổi mới là phải làm tốt hơn cái, khắc phục những tồn đọng và khuyết điểm trước kia. Nói chung nó phải có hiệu quả phải tạo ra được những sản phẩm tuyệt với. Chứ học sinh Việt thông minh, đào tạo một thời gian ngáo ngơ cả đám, đúng là buồn cười thật

hoàng minh nam
4

tôi làm GD hơn 28 năm rồi Thật lòng mà nói lâu nay mình làm sai hết rồi . GD là làm khoa học nền GD khoa học là theo tiêu chuẩn chung của thế giói mình đâu có phát minh ra cái gì đâu mình chỉ việc úng dung lại thoi . chảng qua mấy Bac cố tình làm dự án này nọ cho có việc thôi

Lang thang
5

Định góp ý, nhưng thấy bác này mô tả cũng đầy đủ rồi, đọc xong thấy bài viết rườm rà mà không có tính thuyết phục. Như bác comment nói, chủ nghĩa duy vật biện chứng là Mác tổng hợp từ kiến thức khoa học của các nhà tư tưởng thời đó chứ không phải Mác nghĩ ra. Còn cái chuyện lượng và chất gán ghép vô giáo dục để giải thích thì gượng ép quá. Còn đánh giá giáo dục mấy năm vừa rồi từ khi đổi mới đến giờ đạt được một số thành tựu to lớn, tác giả nêu ra có cái thành tưj nào to lớn đâu, lấp liếm quá, nếu không đổi mới thì theo phát triển bình thường của giáo ducn Việt Nam cũng đạt được, có thể còn vượt bậc hơn. Cái chuyện không nhận sai thôi đã là một thất bại rồi. Còn cái đề án đổi mới toàn diện giáo ducn, theo thi cũng sai tất, tại sao phải đổi mới toàn diện, học sinh học chương trình cũ bị chậm phát triển chăng, đâu thấy chuyện đó, mấy vị giáo sư, tiến sỹ xưa giỏi lắm mà, tên tuổi họ gắn liền với các tác phẩm, các công trình, các nghiên cứ có tác động sâu rộng lắm mà. Cong giờ đây thử nhìn vào các đề tài, dự án của các vị cùng bằng cấp giờ thì thấy liền. Số lượng thì cả 2 sư đoàn, mà liệt kê thành tưj đáng kể chắc trên đầu ngón tay. Số lượng có làm nên chất lượng đâu. Còn chất lượng của mấy cái luân án tiến sỹ thì xem, có ai kiểm tra chưa, đạo văn, sai chính tả, nội dung mơ hồ, trên trời dưới đất, công chúng chỉ tiếp cận cái tiêu đề luận văn không mà đã than trời rồi, thử công bố nội dung ra xem, phơi bày hết ngay. Còn các em học sinh, cái thời 7x, 8x vừa học vừa tung tăng

Hatbuihong
2

Quy luật của xã hội là sự phát triển không ngừng, cái mới thay thế cái củ, đó gọi là cách mạng. Bởi thế không cần dông dài để để giải đáp câu hỏi: “đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục là một vấn đề mang tính quy luật ?” Mà điều cần trao đổi là: đổi mới thế nào để làm cho GD VN phát triển ? Tức là làm thế nào để sự “đổi mới” (hay cuộc cách mạng) đó thành công. Như chúng ta đả biết, yếu tố con người luôn quyết định sự thành công của bất kỳ một cuộc CMXH nào. Vì đó là lực lượng cách mạng. Đặc biệt trong đó lực lượng tiên phong của CMGD là người thầy. Đây là nguyên nhân vừa là bài học sâu sắc của những lần cải cách GD của VN trong nửa thế kỹ qua mà đến bây giờ cũng chưa thể vận dụng được.

Nhật Minh
4

Tôi xin có một số trao đổi với tác giả như sau: Một là, chủ nghĩa duy vật biện chứng không phải là sản phẩm riêng có của Chủ nghĩa Mác - Lênin mà là trên cơ sở thành tựu của nhân loại nên các ông đã tổng kết, khái quát lên. Hai là, quy luật lượng chất phải hiểu cho đầy đủ, không phải bất cứ lúc nào tích đủ về lượng mới đến điểm nút để thay đổi về chất. Nó cần xem xét trong điều kiện, hoàn cảng cụ thể để ra quyết định cho chính xác. Ba là, quy luật phủ định của phủ định phải làm rõ là phủ định biện chứng, có sự kế thừa, có sự loại bỏ đển đi đến cái cao hơn, hoàn thiện hơn, không phải là phủ nhận sạch trơn. Sự nghiệp của Đảng và Nhà nước ta trong xây dựng kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội cũng tuân theo quy luật này. Do đó, sự nghiệp đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục cũng tuân theo quy luật này là tất yếu. Bốn là, xét trong điều kiện hoàn cảnh lịch sử cụ thể thì sự nghiệp phát triển giáo dục do điều kiện chủ quan, khách quan quyết định nhưng xét tận cùng là do vai trò của người lãnh đạo sự nghiệp đó. Do đó, khi viết, tác giả cần làm rõ ý của mình là gì? không nên chỉ đưa ra quy luật chung chung rồi kết luận chung chung như vậy.

Lang thang
0

Sau đổi mới mặt bơ phờ, học cả ngày, cả đêm. Từ lớp mẫu giáo đến lớp 12, trình độ càng ngày càng dở, sức người có hạn đâu phải như cái máy mà ép đổ dầu vô là chạy.

Góc nhìn
0

Đây là ứng dụng cụ thể theo quan điểm Triết học Mac-Lenin.

Xem thêm bình luận
Tin khác