Nguy cơ khủng hoảng thừa đại học

Giáo dục 24h

Ths Trương Khắc Trà

(GDVN) - Đại học ở Việt Nam mấy chục năm dù đáp ứng được nhu cầu học tập của đại bộ phận người dân nhưng lại gặp phải phản ứng dữ dội từ thị trường lao động.

LTS: Tiếp tục loạt bài về nguyên nhân dẫn tình trạng gần 200.000 cử nhân, thạc sỹ thất nghiệp. Trong bài viết này, Ths. Trương Khắc Trà sẽ làm rõ nguyên nhân chủ yếu dẫn tới tình trạng trên. Theo tác giả, đó là khâu đào tạo đại học một cách rầm rộ, tràn lan. 

Tòa soạn trân trọng giới thiệu cùng độc giả quan điểm này.   


Thông thường thuật ngữ “khủng hoảng” thường chỉ làm người ta liên tưởng đến lĩnh vực kinh tế, chính trị hay nhiều nhất cũng chỉ là văn hóa, nhưng hiện nay đi kèm với “khủng hoảng” sẽ có nguy cơ xuất hiện thêm lĩnh vực mới đó là giáo dục đại học!

Nhiều chuyên gia giáo dục quốc tế ngỡ ngàng trước độ "giỏi” của học sinh Việt Nam, điều này đã được khẳng định qua các kỳ thi Olympic quốc tế các môn khoa học cơ bản và xếp hạng của các tổ chức uy tín trên thế giới… nhưng tại sao khi bước vào đại học, sau 4 năm hầu hết đều rơi vào tình trạng thất nghiệp?

Nguy cơ khủng hoảng đại học (Ảnh: tuanvietnam.net)

Chất lượng giáo dục đại học đã là chuyện muôn năm cũ nhưng chưa khi nào bớt nhức nhối, nhất là trong xu thế nhà nhà đi học, người người đi học khiến xã hội đang “bội thực” với những tấm bằng đại học mà bằng chứng là gần 200.000 cử nhân, thạc sỹ đang thất nghiệp!

Vì sao lại có tình trạng trên? Thực sự không phải quá khó để tìm câu trả lời và không thể đổ lỗi hoàn toàn cho khủng hoảng kinh tế khiến việc làm khan hiếm bởi hiện tại chúng ta đang thừa thầy, thiếu thợ, nhu cầu thị trường việc làm luôn rộng mở nhưng hầu hết tân cử nhân không đáp ứng được yêu cầu công việc.

Theo thống kê mới nhất, cả nước hiện có 480 trường đại học, tăng gấp đôi so với 10 năm trở lại đây, mỗi năm cho ra lò khoảng nửa triệu lao động có bằng đại học, tuy nhiên trình độ của người lao động có tương xứng với tấm bằng đại học hay không thì thị trường lao động đã trả lời rõ ràng.

Giáo dục và đào tạo được xem là quốc sách hàng đầu, hoàn toàn hợp lý vì đó là xu thế của toàn cầu, hướng đến nền kinh tế tri thức và tạo ra những công dân toàn cầu phục vụ hội nhập. 

Mục tiêu ấy khiến chúng ta sốt sắng thực hiện để đạt chỉ tiêu 450 sinh viên/10.000 dân vào năm 2020, sau một thời gian dài thực hiện khi ngoảnh lại mọi thứ đã trở nên quá ngổn ngang rối bời, số lượng chắc chắn sẽ đạt nhưng chất lượng vẫn mãi là dấu hỏi.

"Giá cử nhân" chưa bao giờ rẻ như hiện nay!

(GDVN) - Không khó để nhận thấy rằng học sinh Việt rất giỏi ở bậc phổ thông nhưng đuối dần khi bước qua cánh cổng đại học.


Khoảng thời gian từ năm 2000 đến 2010 là thời điểm lên ngôi của các đại học tư thục, chúng ta áp dụng mô hình của Phương Tây trong khi trình độ quản lý và nội dung chương trình quá lạc hậu khiến các đại học tư không khác mấy với những cơ sở kinh doanh đội lốt giáo dục. 

Những lùm xùm quanh việc mâu thuẫn lợi ích giữa các cổ đông trong các đại học tư gần đây như là bức tranh phản chiếu đầy đủ nhất về mặt trái của “xã hội hóa giáo dục”.

Nhận thấy sự bất cập, năm 2013 Bộ GD&ĐT đã có kế hoạch quy hoạch lại hệ thống đại học tuy nhiên sự sinh sôi nảy nở của hệ thống đại học trong vòng một thập kỷ qua phải cần rất nhiều thời gian để “gọt đẽo” sao cho vừa vặn, hợp lý.

Không thể phủ nhận việc “xã hội hóa giáo dục” đã tạo điều kiện cho toàn xã hội phát động cuộc cách mạng học tập, nhưng mặt trái của nó khiến những tấm bằng cử nhân không còn lung linh, sang chảnh, bởi để tồn tại các trường tư đã hạ thấp điểm sàn hết mức có thể trong một thời gian dài nhưng không thấy các ngành chức năng lên tiếng.

Nếu ngày xưa để đỗ vào một đại học bậc trung bình phải đạt số điểm 18, 20 nhưng từ khi các trường tư nở rộ số điểm để bước vào giảng đường đại học đôi lúc chỉ còn ½ số điểm đó, không thể nào có cử nhân chất lượng cao nếu học lực ở phổ thông chỉ đạt mức trung bình.

Nói như vậy không phải người học lực trung bình là không có quyền học đại học, nhưng ở đây thiếu sự phân luồng ngay từ đầu.

Đại học Việt Nam mấy chục năm qua chủ yếu phát triển theo số lượng, mặc dù đáp ứng được nhu cầu học tập của đại bộ phận người dân nhưng lại gặp phải phản ứng dữ dội từ thị trường lao động khi số lượng và chất lượng không không nằm trong mối tương quan thống nhất.

Đại học mở ra để giải quyết đầu vào mà không chú trọng đầu ra là đáp ứng nhu cầu lao động có chất lượng cho nền kinh tế, tất nhiên sẽ mất cân đối trong bài toán việc làm.

Sự thật về con số 45.000 giáo viên dư thừa

(GDVN) - Giáo sư Nguyễn Minh Thuyết nghi ngờ con số trên; Tiến sĩ Nguyễn Tùng Lâm nêu lên nguyên nhân...

Lãnh đủ hậu quả này không chỉ là các bạn trẻ, các bậc cha mẹ mà còn cả xã hội phải đối phó với tình trạng thất nghiệp, nguồn lực quốc gia bị lãng phí.

Và cái gì đến cũng đã đến, hệ quả của việc các trường tư mọc lên như nấm đã khiến xã hội “bội thực” với tấm bằng đại học, trường tư lâm vào cảnh khốn đốn phải đóng cửa vì không thể tuyển sinh, trong khi đó đại học công lập vẫn đang loay hoay với bài toán chất lượng.

Một cuộc khủng hoảng đại học đang dần xuất hiện, đây là kết quả của việc đào tạo tràn lan, không căn cứ và nhu cầu thị trường lao động, âu cũng là tín hiệu tốt khi thị trường đóng vai trò là người phản biện chính sách, sẽ khách quan và trọng lượng hơn nhiều so với tiếng nói của chuyên gia và dư luận!?

Bài viết thể hiện quan điểm, góc nhìn và cách hành văn của riêng tác giả.

Ths Trương Khắc Trà
Từ khóa :
cử nhân , Đại học , thất nghiệp , nhu cầu việc làm , chất lượng
Nguy cơ khủng hoảng thừa đại học
Viết bình luận của bạn về bài viết này ...
Thanh Hà
3

Chừng nào khu vực nhà nước còn trả lương theo bằng cấp, thoát li hoàn toàn khỏi yếu tố năng suất lao động. Cùng với dùng mệnh lệnh hành chính quyết định "chuẩn hóa chức danh cán bộ" dựa vào văn bằng, chứng chỉ mà không liên quan gì đến tài năng và cống hiến. Đó là hệ lụy của chế độ CÔNG VỤ CHỨC NGHIỆP kéo dài hơn 1/2 thế kỉ, từ đó bằng cấp trở thành mục tiêu, vừa là động lực phấn đấu của toàn xã hội. Nếu nhà nước còn tiếp tục quản trị nguồn nhân lực theo chế độ công vụ chức nghiệp thì chưa vội lo KHỦNG HOẢNG thừa đại học.

Hoàng Hoa Đình
0

Nước ta đã thừa ĐH hàng chục năm nay rồi, chứ không phải là nguy cơ nữa. Nhìn vào số 199.400 cử nhân, thạc sĩ thất nghiệp, hàng trăm nghìn cử nhân dấu bằng ĐH để làm công nhân, là thấy rõ thừa ĐH,...

Nguyễn Hồng
1

«học sinh Việt Nam chỉ giỏi ở cấp học PT thôi» . Các trường đại học giải thích.

Văn Trung Thành
0

@Trương Khắc Trà! Không được nói nguy cơ thừa Đại Học? Nói thế thật vô nghĩa? mà Phải nói chắc chắn rằng: " Nước ta hiện nay thừa mứa các Cử nhân; Thạc sĩ; Tiến sĩ; Giáo sư; Phó Giáo sư; Các khoa đào tạo các chuyên ngành kinh tế-Xã hội. Giá như mở được các ngành khoa học kỹ thuật thì tốt biết bao. Luận điểm này không ổn.

Mr Tuan
1

Mấy giờ rồi còn nguy cơ

Thanh Bình - ĐHQG HN
7

Dù muốn hay không muốn về thừa nhận LỢI ÍCH VỪA LÀ MỤC TIÊU, VỪA LÀ ĐỘNG LỰC của mỗi cá nhân thì nó luôn song hành với sự tồn tại và phát triển của xã hội Do trải qua nhiều thập kỉ khu vực nhà nước phân phối thu nhập theo bằng cấp, thoát li khỏi quy luật phận phối theo lao động. Nghĩa là thang bảng lương phụ thuộc phần lớn vào bằng cấp mà không liên quan gì đến tài năng và cống hiến của mỗi cá nhân. Từ đó BẰNG CẤP trở thành mục tiêu và động lực cho mọi người phấn đấu thay cho tăng năng suất lao động. Nhu cầu về BẰNG CẤP ngày càng gia tăng, năng suất lao động thấp xa so với các nước khu vực là có nguyên nhân của nó. Đất nước hội nhập vào đời sống quốc tế ngày càng sâu rộng, thị trường lao động cần người có năng lực, không dung nạp người có bằng cấp cao nhưng không thành thạo việc gì mà làm. Vì chẳng có quôc gia nào xây dựng thang bảng lương chỉ dựa vào bằng cấp mà không tham chiếu đến NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG. Tất cả các vị trí việc làm của công chức, viên chức nhà nước đều có bản mô tả công việc rất chi tiết, chính xác và khoa học. Ở nước ta mở ra tràn lan các trường ĐH nhằm đáp ứng nhu cầu BẰNG CẤP cho xã hội mà ít quan tâm đến đào tạo kiến thức, kỉ năng nghề nghiệp cho lực lượng lao động tương lai thì nguy cơ khủng hoảng thừa đại học đang lộ diện.

Oan oan
2

Không phải thừa mà là chất lượng đào tạo quá kém! Thời gian học đại học 4-5 năm nhưng thực chất kiến thức họ học để đi làm lại chỉ được đào tạo trong khoảng một đến hai năm gì đó có khi còn không đến còn lại là để học lại những kiến thức cũ đã học ở phổ thông trong hai năm đại cương và những lý luận không đâu một cách vô bổ, những ...Họ bị bắt học thuộc lòng như những con vẹt, học hàng mấy chục trang cuối cùng chả để làm gì. Những thứ này họ chỉ cần đọc sách và tự trang bị kiến thức hiểu biết xã hội cho mình là được đâu cần bắt buộc họ phải lắm những thứ đấy làm gì?! Thật là Giáo điều.

Hai Phong
9

Sao lại gọi là khủng hoảng thừa? mà phải gọi là "khủng hoảng chất lượng đại học" mới đúng. Càng nhiều người học ĐH thì dân trí càng cao. Quan trọng là quan tâm hơn đến phương pháp đào tạo và chất lượng thôi. Kể cả học ĐH ra đi làm công nhân trình độ nhận thức vẫn khác.

Xem thêm bình luận
Tin khác