Khả năng tác chiến của tàu ngầm Trung Quốc (P2)

Giáo dục Quốc phòng

Cùng với lực lượng tàu nổi, không quân hải quân và lính thủy đánh bộ, lực lượng tàu ngầm là một trong những đơn vị chủ chốt, phát triển năng động nhất của Hải quân TQ.

(GDVN) - Cùng với lực lượng tàu nổi, không quân hải quân và lính thủy đánh bộ, lực lượng tàu ngầm là một trong những đơn vị chủ chốt, phát triển năng động nhất của Hải quân quân đội giải phóng nhân dân Trung quốc.

Tiến trình và triển vọng đóng tàu cho lực lượng Hải quân

Đầu tiên Trung Quốc nghiên cứu và phát triển tàu ngầm là lớp diesel-điện, sau đó vào cuối những năm 60 của thế kỷ trước mới phát triển loại tàu ngầm nguyên tử với sự giúp đỡ của các chuyên gia nước ngoài, chủ yếu là chuyên gia Liên Xô-Nga và chuyên gia Pháp.
 

 

Với sự giúp đỡ của các chuyên gia Liên Xô, những chiếc tàu ngầm diesel-điện đầu tiên của Trung Quốc dự án 033 (theo phân loại của NATO là lớp Romeo) đã được thiết kế, chế tạo dựa trên phiên bản tàu ngầm diesel-điện dự án 633 của Liên Xô.

Trong giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1983 Trung Quốc đã đóng được tất cả 84 chiếc tàu ngầm loại này, một phần trong số đó đã được chuyển giao cho nước khác, số còn lại vẫn tiếp tục phục vụ trong biên chế.

Trong suốt quá trình chế tạo và sử dụng, với sự hỗ trợ của các chuyên gia Pháp, những chiếc tàu ngầm loại này đã nhiều lần phải nâng cấp nhằm hoàn thiện các thiết bị điện tử, thủy âm và radar vô tuyến.

Đến nay, vẫn còn khoảng 8 chiếc tàu ngầm loại này đang được biên chế trong lực lượng Hải quân Trung Quốc, trong đó có phiên bản nâng cấp thuộc dự án 033G (mang số hiệu 351) được sử dụng để phóng thử nghiệm tên lửa đối hạm YJ-8 từ ống phóng ngư lôi.

Sau dự án 033, Trung Quốc tiếp tục nghiên cứu, phát triển tàu ngầm diesel-điện lớp 035 (theo phân loại của NATO được gọi là lớp Minh) với 3 phiên bản chính: phiên bản dự án 035 trong những năm 1969-1979; biến thể của phiên bản dự án 035 mang các số hiệu 342, 352-363 vào những năm 1988-1995; phiên bản dự án 355G mang số hiệu 305-309 vào những năm 1997-2000.

Tất cả trong giai đoạn từ 1975-2000, Trung Quốc đã chế tạo thành công khoảng 25 chiếc tàu ngầm diesel-điện dự án 035 với tất cả các biến thể, một số ít trong số này sẽ thanh lý và đưa ra khỏi biên chế trong thời gian tới, số còn lại (17 chiếc) vẫn sẽ tiếp tục hoạt động.

Tàu ngầm diesel-điện lớp Tống dự án 039/039G đã được chế tạo trong giai đoạn từ 1999 đến 2006 tại xưởng đóng tàu Vũ Hán dựa trên phiên bản tàu ngầm lớp “Agosma” của Pháp và được các chuyên gia của nước này hỗ trợ về mặt kỹ thuật.
 

 

Chiếc tàu ngầm đầu tiên trong số 13 chiếc tàu ngầm này mang số hiệu 320 đã được hạ thủy vào tháng 5/1994 và đến tháng 8/1994 thì bắt đầu thử nghiệm. Tuy nhiên, mãi đến năm 1999 chiếc tàu ngầm này mới chính thức đưa vào biên chế do gặp phải một số sự cố kỹ thuật liên quan đến tiếng ồn của động cơ.

Do vậy, những chiếc tàu ngầm tiếp theo loại này được chế tạo theo biến thể dự án 039G (sau năm 2003 là dự án 039G1). Tất cả tàu ngầm lớp này đều được trang bị động cơ diesel MTU 12V 493 của Đức, hệ thống radar quét 360 độ của Pháp và lớp thân vỏ nhẹ được làm bằng vật liệu đặc biệt có khả năng vô hiệu hóa hệ thống định vị thủy âm của đối phương.

Nếu so sánh về độ ồn của động cơ thì tàu ngầm lớp Tống của Trung Quốc cũng tương đương với độ ồn của tàu ngầm các nước phương Tây vào giữa những năm 80 của thế kỷ trước.

Tàu ngầm loại này có khả năng phóng tên lửa hành trình đối hạm ASCM loại YJ-82 (YJ-801Q) ở trạng thái động trong phạm vi 22 dặm (40 kmg), tốc độ 0,9 M mang đầu đạn tự dẫn có trọng lượng 165 kg.

Bên cạnh đó, tàu ngầm loại này cũng có thể sử dụng ngư lôi hoặc thủy lôi hạng nặng loại 533 mm, trong đó có loại đối hạm Yu-4 tầm bắn xa 8,1 dặm (15 km), tốc độ 35 hải lý mang đầu đạn tác chiến có trọng lượng 400 kg và loại săn ngầm Yu-3 có tầm bắn xa 15 km, tốc độ 40 hải lý, trọng lượng đầu đạn 205 kg.

Tàu ngầm lớp Kilo dự án 877EKM/636 là một trong những phiên bản xuất khẩu của Nga thuộc dự án 877 và 636, do vậy, đa số hệ thống, trang thiết bị, vũ khí trên tàu đều vẫn được giữ nguyên, chỉ khác ở vũ khí ngư lôi, thiết bị vô tuyến điện tử và hệ thống thông gió, điều hòa không khí, cho phép tàu có thể hoạt động trong điều kiện khắc nghiệt.
 

 

 Tàu ngầm lớp Kilo

Trong giai đoạn từ năm 1995 đến 2006 Nga đã cung cấp cho Hải quân Trung Quốc 12 chiếc tàu ngầm loại này. Hai chiếc tàu ngầm diesel-điện đầu tiên thuộc dự án 877EKM đã được cung cấp cho Trung Quốc vào năm 1995, tiếp đó vào các năm 1996 và 1999 Nga tiếp tục cung cấp cho Trung Quốc hai chiếc tàu ngầm thuộc dự án 636 trang bị động cơ diesel-điện mạnh hơn, hệ thống vô tuyến điện hoàn thiện hơn và hệ thống bảo vệ tích cực hơn.

Tất cả 4 chiếc tàu ngầm loại này đều đã được biên chế cho Hạm đội Đông Hải. Sau một thời gian sử dụng, Trung Quốc định sẽ đưa những chiếc tàu này trở lại Nga để trang bị thêm tên lửa hành trình đối hạm 3M54E Club, song sau đó vào tháng 7/2007 Trung Quốc đã trang bị cho những chiếc tàu ngầm này loại tên lửa hành trình đối hạm YJ83 và ngư lôi Yu-6 do chính nước này sản xuất.

Cuối năm 2006 Trung Quốc tiếp tục tiếp nhận 8 chiếc tàu ngầm diesel-điện thuộc dự án 636EM được trang bị tên lửa hành trình đối hạm 3M54E Club mang đầu đạn dẫn đường tích cực bằng vô tuyến có trọng lượng 400 kg, tầm bắn xa 148 dặm và tốc độ hành trình của đầu đạn là 0,8M.

Tàu ngầm lớp Nguyên
là chiếc tàu ngầm đầu tiên do Trung Quốc tự nghiên cứu, chế tạo được trang bị nhiều hệ thống, trang thiết bị kỹ thuật hiện đại, tiên tiến, có khả năng tự cung cấp dưỡng khí nên thời gian hoạt động ở dưới nước lâu hơn, hiệu quả tác chiến cũng được nâng cao đáng kể.
 

 Tàu ngầm lớp Nguyên

 Tàu ngầm lớp nguyên

Tàu ngầm loại này được trang bị cả tên lửa hành trình đối hạm YJ-8Q bắn qua thiết bị phóng ngư lôi. Tàu ngầm mang tên lửa đạn đạo lớp Golf dự án 629 do Liên Xô cung cấp với số lượng 3 chiếc, trong đó 1 chiếc đã bị đắm, hai chiếc còn lại hiện nay đang được sử dụng để thử nghiệm tên lửa mới. Tàu ngầm loại này được trang bị hai ống phóng tên lửa dạng thẳng đứng để thử tên lửa đạn đạo phiên bản trên biển.

Hữu Kỷ - Nhật Minh (Tổng hợp)
 

Từ khóa :
Khả năng tác chiến của tàu ngầm Trung Quốc (P2)
Tin khác