Sắp tới, muốn bảo vệ luận án Tiến sĩ phải có 2 bài báo quốc tế

Tư vấn pháp luật

Thùy Linh

(GDVN) - Theo Dự thảo về Quy chế đào tạo trình độ tiến sĩ Bộ GD&ĐT vừa công bố, để dự tuyển tiến sĩ học viên phải có bằng thạc sĩ hoặc tốt nghiệp đại học loại giỏi.

Phải có chứng chỉ tiếng Anh TOEFL iBT, IELTS, TOEIC mới được làm tiến sĩ

Dự thảo đưa ra quy định mới, để dự tuyển tiến sĩ học viên phải có bằng thạc sĩ hoặc tốt nghiệp đại học loại giỏi.

Theo quy định cũ, những người tốt nghiệp đại học loại khá cũng có thể ứng tuyển tiến sĩ.

Điểm mới trong dự thảo là các ứng viên phải là tác giả hoặc đồng tối thiểu 01 bài báo liên quan đến lĩnh vực hoặc đề tài nghiên cứu dự kiến đăng trên các tạp chí thuộc danh mục các tạp chí khoa học chuyên ngành hoặc 01 báo cáo đăng tại kỷ yếu của các hội nghị, hội thảo khoa học trong hoặc ngoài nước.

Các bài báo hoặc báo cáo này được đăng tải trong thời hạn 03 năm (36 tháng) tính đến ngày đăng ký dự tuyển.

Điều kiện về ngoại ngữ, ứng viên phải có một trong số các văn bằng, chứng chỉ sau:

Bằng tốt nghiệp đại học hoặc bằng thạc sĩ do cơ sở đào tạo nước ngoài cấp cho người học toàn thời gian ở nước ngoài mà ngôn ngữ sử dụng trong quá trình học tập là tiếng Anh hoặc tiếng nước ngoài khác;

Bằng tốt nghiệp đại học ngôn ngữ nước ngoài trong thời hạn 05 năm (60 tháng) tính đến ngày đăng ký dự tuyển;

Sắp tới, muốn bảo vệ luận án Tiến sĩ phải có 2 bài báo quốc tế (Ảnh: giaoduc.net.vn)

Chứng chỉ tiếng Anh TOEFL iBT từ 45 trở lên hoặc Chứng chỉ IELTS (Academic Test) từ 5.0 trở lên hoặc Chứng chỉ TOEIC từ 500 điểm trở lên do một tổ chức khảo thí được quốc tế và Việt Nam công nhận cấp trong thời hạn 02 năm (24 tháng) kể từ ngày cấp đến ngày đăng ký dự tuyển;

Chứng chỉ tiếng nước ngoài khác ở trình độ tương đương do một tổ chức khảo thí được quốc tế và Việt Nam công nhận cấp trong thời hạn 02 năm (24 tháng) kể từ ngày cấp đến ngày đăng ký dự tuyển.

Thời gian đào tạo từ 3 - 4 năm


Dự thảo nêu rõ, thời gian đào tạo trình độ tiến sĩ từ 03 năm đến 04 năm (từ 36 tháng đến 48 tháng) tùy từng đối tượng (có bằng thạc sĩ hoặc tốt nghiệp đại học).

Tuy nhiên, thời gian để nghiên cứu sinh hoàn thành chương trình đào tạo bao gồm thời gian gia hạn (tối đa 2 năm) là từ 5 năm đến 6 năm kể từ khi có quyết định công nhận nghiên cứu sinh.

Người hướng dẫn phải chịu trách nhiệm khi nghiên cứu sinh "đạo văn"

(GDVN) - Bộ GD&ĐT đang sửa đổi quy chế đào tạo tiến sĩ theo hướng tăng thời gian hoàn thành luận án từ 2 lên 3 năm, ứng viên phải đạt chuẩn ngoại ngữ ngay từ đầu vào.

Theo quy định hiện hành, tổng thời gian hoàn thành chương trình của nghiên cứu sinh có thể kéo dài tới 7-8 năm.

Khối lượng học tập cũng có quy định mới phù hợp với Khung năng lực trình độ quốc gia mới được Thủ tướng Chính phủ ban hành.

Cụ thể, khối lượng học tập chương trình tiến sĩ tối thiểu từ 90 tín chỉ đối vối nghiên cứu sinh có bằng tốt nghiệp thạc sĩ hoặc bằng tốt nghiệp đại học chương trình đào tạo có khối lượng học tập tối thiểu 150 tín chỉ, đáp ứng chuẩn đầu ra tương đương Bậc 7 của Khung trình độ quốc gia Việt Nam (ví dụ đào tạo bác sĩ - PV) và từ 120 tín chỉ đối với nghiên cứu sinh có bằng tốt nghiệp đại học.

Chuẩn đầu ra phải đáp ứng các yêu cầu của Bậc 8 theo Khung trình độ quốc gia Việt Nam.

Người hướng dẫn phải có công bố quốc tế


Theo dự thảo, người hướng dẫn nghiên cứu sinh, có chức danh giáo sư hoặc phó giáo sư hoặc có bằng tiến sĩ khoa học hoặc tiến sĩ, chuyên môn phù hợp với đề tài luận án hoặc lĩnh vực nghiên cứu của nghiên cứu sinh; 

Đối với người chưa có chức danh giáo sư, phó giáo sư thì phải có tối thiểu 05 năm (60 tháng) nghiên cứu hoặc giảng dạy kể từ khi được cấp bằng tiến sĩ khoa học hoặc tiến sĩ. 

Theo quy định cũ, đối tượng này chỉ cần đảm bảo tối thiểu 3 năm.

Bên cạnh đó, phải chủ trì các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp Bộ và tương đương trở lên;

Dự thảo yêu cầu người hướng dẫn nghiên cứu sinh là tác giả hoặc đồng tác giả tối thiểu 01 bài báo đăng trong tạp chí thuộc danh mục các tạp chí của Viện thông tin khoa học ISI - Thomson Reuters, hoặc trong cơ sở dữ liệu tóm tắt và trích dẫn Scopus - Elsevier hoặc 01 sách tham khảo của các nhà xuất bản nước ngoài có mã số chuẩn quốc tế ISBN (International Standard Book Number). 

Nếu không đạt điều kiện trên, người hướng dẫn cũng có thể có 2 báo cáo đăng trên kỷ yếu hội thảo quốc tế có phản biện (Peer Review) hoặc 02 bài báo đăng trên tạp chí khoa học nước ngoài có phản biện khác thuộc lĩnh vực nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án của nghiên cứu sinh;

Trường hợp người hướng dẫn độc lập là tiến sĩ nhưng chưa có chức danh giáo sư hoặc phó giáo sư, ngoài việc phải đáp ứng quy định phải có thêm 01 bài báo/công trình khoa học đăng trong tạp chí khoa học thuộc danh mục các tạp chí của Viện thông tin khoa học ISI, hoặc trong cơ sở dữ liệu tóm tắt và trích dẫn Scopus - Elsevier hoặc trong sách tham khảo có mã số chuẩn quốc tế ISBN do các nhà xuất bản nước ngoài phát hành.

Trường hợp người hướng dẫn là nước ngoài hoặc nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài thì không phải thực hiện quy định nêu trên.

Quy định mới cũng cho phép các giáo sư, phó giáo sư được hướng dẫn đồng thời nhiều nghiên cứu sinh hơn so với quy định hiện hành. 

Tuy nhiên, quy định mới yêu cầu người hướng dẫn không được nhận thêm nghiên cứu sinh mới nếu trong vòng 6 năm tính đến thời điểm giao nhiệm vụ có 2 nghiên cứu sinh không hoàn thành chương trình đào tạo hoặc luận án không được hội đồng cấp trường/viện thông qua.

Sẽ dừng tuyển sinh với cơ sở đào tạo nếu có 20% số luận án không đạt yêu cầu

Theo dự thảo, việc thẩm định quá trình đào tạo, nội dung và chất lượng luận án được thực hiện trong các trường hợp: Thẩm định ngẫu nhiên: chọn xác suất hồ sơ quá trình đào tạo hoặc luận án đã được Hội đồng đánh giá luận án cấp trường/viện thông qua trong báo cáo của cơ sở đào tạo quy định hoặc khi có đơn thư khiếu nại, tố cáo về hồ sơ quá trình đào tạo, nội dung và chất lượng luận án.

Sao chép hoàn toàn 30 trang luận văn không nguy hiểm bằng ăn cắp ý tưởng

(GDVN) - Theo GS.Trần Văn Nhung: “Tôi có nghe ý kiến cho rằng nên xây dựng phần mềm để lọc các dự án "đạo văn", nhưng không có phần mềm nào thay thế được con người".

Số lượng hồ sơ quá trình đào tạo, luận án được thẩm định tối đa là 15% của tổng số nghiên cứu sinh đã bảo vệ luận án và được Hội đồng đánh giá luận án cấp trường/viện thông qua trong năm của cơ sở đào tạo.

Cơ sở đào tạo có từ 20% trở lên số hồ sơ quá trình đào tạo hoặc luận án không đạt yêu cầu thẩm định trong năm sẽ bị dừng tuyển sinh tối thiểu trong 01 năm (12 tháng) tiếp theo; có từ 20% trở lên số luận án không đạt yêu cầu thẩm định trong 02 năm (24 tháng) liên tiếp sẽ bị dừng việc thành lập Hội đồng đánh giá luận án cấp trường/viện và cấp bằng tiến sĩ tối thiểu trong 01 năm (12 tháng) tiếp theo.

Việc dừng các hoạt động theo quy định được thông báo công khai trên trang thông tin điện tử của Bộ GD&ĐT.

Phát hiện gian lận sẽ thu hồi bằng tiến sĩ

Dự thảo nêu rõ, trường hợp phát hiện có vi phạm, sai sót trong quá trình tuyển sinh, đào tạo, gửi phản biện độc lập, đánh giá luận án và cấp bằng tiến sĩ, Bộ GD&ĐT có văn bản đề nghị cơ sở đào tạo xử lý hoặc trực tiếp xử lý theo thẩm quyền.

Bên cạnh đó, sẽ thu hồi bằng tiến sĩ theo quy định hiện hành và trong những trường hợp bị phát hiện gian lận trong hồ sơ dự tuyển khiến người được cấp bằng không còn đảm bảo điều kiện dự tuyển và điều kiện công nhận nghiên cứu sinh;

Bị phát hiện sao chép, trích dẫn không đúng quy định trong luận án mà nếu bỏ những phần này ra thì luận án không đáp ứng yêu cầu quy định.

Trường hợp nghiên cứu sinh bị phát hiện đã có những vi phạm khác thì tuỳ theo mức độ vi phạm sẽ bị kỷ luật từ khiển trách, cảnh cáo, tạm ngừng học tập, đình chỉ học tập đến truy cứu trách nhiệm hình sự.

Lộ trình áp dụng quy định mới

Thời gian áp dụng những quy định mới sẽ áp dụng đối với các khóa tuyển sinh sau thời điểm quy chế có hiệu lực. Các khóa tuyển sinh trước vẫn thực hiện theo quy định cũ.

Đối với các quy định mới, có 2 phương án thực hiện. 

Phương án 1 là yêu cầu phải có bài báo quốc tế đối với người hướng dẫn nghiên cứu sinh sẽ được thực hiện cho các khóa tuyển sinh từ sau 31/12/2018. Yêu cầu có công bố quốc tế mới được bảo vệ luận án tiến sĩ sẽ được áp dụng cho các khóa tuyển sinh sau 31/12/2019.

Phương án 2, người hướng dẫn chỉ cần có 1 báo cáo đăng trong kỷ yếu hội thảo quốc tế có phản biện hoặc 1 bài báo đăng trên tạp chí khoa học nước ngoài có phản biện trong vòng 5 năm chứ không cần phải có một công bố quốc tế trên các tạp chí ISI hoặc Scopus.

Quy định này áp dụng đối với các lĩnh vực khoa học tự nhiên kỹ thuật và công nghệ. Thời gian áp dụng từ khi quy định mới có hiệu lực đến hết 31/12/2018.

Đối với nghiên cứu sinh, cho đến hết 31/12/2019, chỉ cần có tối thiểu qua 01 báo cáo đăng trong kỷ yếu hội thảo quốc tế có phản biện (Peer Review) hoặc 01 bài báo đăng trên tạp chí khoa học nước ngoài có phản biện khác chứ không cần tối thiểu 2 bài báo quốc tế.

Quy định này cũng chỉ áp dụng đối với các lĩnh vực khoa học tự nhiên kỹ thuật và công nghệ.

Từ sau 2 thời điểm trên, các điều kiện và yêu cầu với người hướng dẫn và nghiên cứu sinh được thực hiện như quy định mới và với tất cả các ngành, lĩnh vực, không phân biệt khoa học tự nhiên – kinh tế - công nghệ hay khoa học xã hội nhân văn.

Thùy Linh
Từ khóa :
tiến sĩ , quy định , dự thảo , ngành nghề , người hướng dẫn , kỹ thuật , công nghệ
Sắp tới, muốn bảo vệ luận án Tiến sĩ phải có 2 bài báo quốc tế
Viết bình luận của bạn về bài viết này ...
nguyễn duyv khương
0

theo toi nên áp dụng luôn tư tháng 5 2017 cho tất cả các dối tượng luôn đi, vì chất lượng tiến sĩ của ta mấy năm gần đây quá kém nhất là khi bỏ cả thi tuyển đầu vào, tiếng anh b1, b2 toàn chạy chứ biết mô tê gì đâu.

Chu Tiên Sinh
0

Tốt nhất áp dụng luôn đi, không chờ đến 2018 nữa. Nên bỏ ngay cái chứng chỉ B1,B2 cho các khóa đang học luôn vì tôi nói thật toàn mua bán,làm giầu chi các trung tâm thôi.

Nguyễn Thị Hiền Mai
0

Phần 2/2 – Vậy mà có môt bộ phận xã hội ta chẳng những không biết phát triển, tận dụng lợi thế nầy, mà còn tìm cách kìm hãm, “làm khó” nó. Đặc biệt trong khoa học kỹ thuật. Cái gì là “viêm nha chu” thay vì “sưng nướu răng” mà ai cũng hiểu ? Cái gì là “vĩ mô” “vi mô” thay vì “mặt rộng” “mặt hẹp” ? Cái gì là “phi tuyến” “tiệm tuyến” thay vì “đuờng không thẳng” “đuờng đến gần” ? Cái gì là “số thứ nguyên” thay vì “số thường” (không đơn vị) ? Nhìn vô, đặc biệt lần đầu, là thấy “viêm nha chu”, “vĩ mô”, “phi tuyến”, … sao khó quá (mà không đáng khó), làm “mất hứng”, là hết muốn đến gần. Thì làm sao khoa học kỹ thuật phát triển cho được ? Trong khi đó, với văn hóa, nghệ thuật, ta có “Đêm nằm quay mặt trở ra”, “Canh chua điên điển cá linh”, “Sao cô múc ánh trăng vàng đỗ đi”, … ai cũng hiểu, con nít bà gìa ai cũng có thể tham gia dễ dàng, thành ra văn hóa, nghệ thuật ta phát triển như bùng nỗ. Tóm lại, tôi cho là khoa học kỹ thuật ta vẫn ì ạch, không phát triển, phần lớn là do ta tự buộc đá tảng vào chân mình, với từ chữ dịch nguyên xi từ tiếng Trung Quốc xa lạ khó hiểu (phiêm âm từ tiếng Nga, Anh, Pháp có khi còn dễ “tiếp thu” hơn), “làm mất hứng”, thay vì dùng chữ Việt dễ gần dễ hiểu, để tất cả mọi người ai cũng có thể tham gia đóng góp, cùng giúp khoa học kỹ thuật ta tiến lên (1 triệu người tham gia chắc chắn sẽ đẩy tốt hơn là 10 người)

Nguyễn Thị Hiền Mai
0

Phần 1/2 – Nhân đây tôi xin góp ý về khoa học kỹ thuật nước ta. Trong khi văn hóa, nghệ thuật ta rất sôi động, phát triển ào ạt, có cả nhiều bà gìa em bé tham gia đóng góp, thì khoa học kỹ thuật nước ta rất ì ạch, kém phát triển. Tại sao? Tôi thấy có nhiều lý do trong đó phương cách tổ chức, thưởng phạt, cơ chế lề mề, không trong sạch (thí dụ, tôi biết những người muốn được xem xét cho chức danh Phó Giáo Sư đều phải có phong bì cho các thành viên của hội đồng xét duyệt; có Giáo sư đi chấm Bảo vệ Luận văn Tiến sĩ còn coi ngày kiêng cữ mồng 5, mười bốn, hăm ba, phải có quà cáp, ăn uống, ngay cả phong bì, và dĩ nhiên chi phí ăn ở, đi lại, … đều do sinh viên bảo vệ luận văn [nghèo hơn giáo sư nhiều] chi trả), … có vai trò rất lớn. Nhưng tôi cho lý do cơ bản nhất là do ta tự ghè đá tảng vào chân mình, với từ chữ dùng trong khoa học kỹ thuật rất xa lạ khó khăn, hũy hoại những cãm hứng ban đầu (rất quan trọng), làm cho số người có thể tham gia làm khoa học kỹ thuật và thúc đẩy nó tiến lên không nhiều. Ta rất may mắn có được chữ viết dễ đọc dễ hiểu, có thể mang ý tưởng, thông tin đi vào cuộc sống nhanh, dễ. Hãy so sánh: Có bao nhiêu (chỉ đếm được TRÊN ĐẦU NGÓN TAY) tác phẩm bằng chữ Nôm, hay chữ Hán mà ta có được trong cả MẤY NGÀN NĂM lịch sữ, so với CON SỐ KHỔNG LỒ từ ngày ta có chữ viết dễ đọc dễ hiểu như ngày nay. Vậy mà có môt bộ phận xã hội ta chẳng những không biết phát triển, tận dụng lợi thế nầy, mà còn tìm cách kìm hãm, “làm khó” nó. Đặc biệt trong khoa học kỹ thuật.

Thanh Hà
2

Vấn đề quan niệm thế nào là công bố quối tế. Nhiều viện, trường tổ chức cái gọi là Hội nghị quốc tế với các báo cáo viết tiếng Anh còn sai tiếng Anh. Thậm chí tạp chí bằng tiếng Anh cũng vậy. Rồi viết theo kiểu cóp nhặt, khi hỏi đến ý nghĩa theo tiếng Việt thì dịch sai. Nếu giỏi thực sự thì nên đăng song ngữ. Do vậy các quy định cần rõ ràng.

Xem thêm bình luận
Tin khác