Cơ sở đào tạo nhận diện nhân lực chất lượng cao về AI và công nghệ số đang khan hiếm

29/11/2025 06:30
Thúy Hiền

GDVN - Để AI thực sự phát triển bền vững thay vì “cơn sốt công nghệ”, cần đột phá về thể chế, hạ tầng và nhân lực để biến tiềm năng thành giá trị kinh tế.

Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo cùng chuyển đổi số là những động lực mang tính đột phá cho sự phát triển đất nước. Mục tiêu đến năm 2030 hướng tới việc xây dựng các trường đại học và viện nghiên cứu trở thành lực lượng nòng cốt, đảm nhận đồng thời ba chức năng: nghiên cứu, ứng dụng và đào tạo nhân lực chất lượng cao.

Ngoài ra, nghị quyết cũng đề ra yêu cầu phát triển đội ngũ giảng viên và nhà khoa học có trình độ chuyên môn vững vàng, đặc biệt trong các lĩnh vực mũi nhọn như khoa học cơ bản, công nghệ bán dẫn, thiết kế vi mạch và kỹ thuật số.

Chìa khóa để Việt Nam thoát khỏi mô hình “lao động giá rẻ”

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hữu Quang - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp cho biết, hiện nay, Việt Nam đang phải đối mặt với thách thức lớn liên quan đến chi phí lao động thấp và yêu cầu cấp bách phải đầu tư mạnh vào giáo dục, đào tạo về trí tuệ nhân tạo (AI) để nâng cao năng lực cạnh tranh.

“Đây là vấn đề cốt lõi, chạm đúng vào “gót chân Achilles” của mô hình kinh tế Việt Nam suốt nhiều năm qua, khi chúng ta vẫn loay hoay trong “bẫy thu nhập trung bình”. Thực chất, thách thức không nằm ở chi phí lao động thấp mà còn ở năng suất lao động thấp.

Mô hình tăng trưởng dựa trên lợi thế lao động giá rẻ và hoạt động gia công đã chạm tới giới hạn phát triển. Trong bối cảnh đó, sự trỗi dậy của trí tuệ nhân tạo trở thành “con dao hai lưỡi” - vừa mở ra cơ hội bứt phá, vừa đặt ra thách thức sinh tồn cho mô hình kinh tế cũ.

Công nghệ AI, đặc biệt trong các lĩnh vực robot và tự động hóa đang dần đảm nhận tốt hơn con người ở những công việc mang tính lặp lại. Điều đó khiến lực lượng lao động gia công, lắp ráp - vốn là trụ cột của nền kinh tế Việt Nam đối mặt với nguy cơ bị thay thế, không phải bởi nhân công giá rẻ từ quốc gia khác, mà bởi chính máy móc thông minh.

Bởi vậy, đầu tư vào giáo dục và đào tạo về trí tuệ nhân tạo trở thành điều kiện sống còn để Việt Nam thực hiện bước “nhảy vọt” trong chuyển đổi mô hình tăng trưởng trước khi lợi thế lao động giá rẻ hoàn toàn mất đi”, thầy Quang cho hay.

pgs-ts-nguyen-huu-quang.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hữu Quang - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp. Ảnh: website nhà trường.

Theo Phó Giáo sư Nguyễn Hữu Quang, Việt Nam đang hội tụ đủ ba yếu tố “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” để tạo nên cú bứt phá mạnh mẽ trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo.

Về “thiên thời” (thời điểm), cuộc cách mạng công nghệ tạo sinh đang bùng nổ trên toàn cầu, mở ra cơ hội hiếm có trong lịch sử. Khác với các cuộc cách mạng công nghiệp trước, lần này Việt Nam có thể tiếp cận công nghệ lõi và các công cụ AI gần như đồng thời với những quốc gia phát triển nhất. Khoảng cách về “vạch xuất phát” đang được rút ngắn đáng kể.

Về “địa lợi” (thị trường và chính sách), thị trường công nghệ và trí tuệ nhân tạo tại Việt Nam được đánh giá là một trong những thị trường tăng trưởng nhanh nhất khu vực, với quy mô dự kiến đạt 1,52 tỷ đô la Mỹ vào năm 2030 và tốc độ tăng trưởng kép hằng năm khoảng 20%.

Song song đó, quyết tâm của Đảng và Nhà nước thể hiện rõ qua việc ban hành Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị và đặc biệt là Luật Công nghiệp Công nghệ số; đưa ra hàng loạt cơ chế ưu đãi chưa từng có cho lĩnh vực trí tuệ nhân tạo và bán dẫn như miễn thuế thu nhập doanh nghiệp, miễn thuế thu nhập cá nhân trong 5 năm đối với chuyên gia tay nghề cao.

Về “nhân hòa” (nhân lực và hệ sinh thái), Việt Nam có lợi thế lớn về nguồn nhân lực trẻ, am hiểu công nghệ và nhanh nhạy với xu thế mới. Cùng với đó là hệ sinh thái khởi nghiệp công nghệ ngày càng sôi động, nhận được sự hỗ trợ mạnh mẽ từ cả trong và ngoài nước. Nhiều tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới như Nvidia hay Qualcomm cũng đã đầu tư để xây dựng trung tâm R&D với tầm nhìn toàn cầu ngay tại Việt Nam.

sv-uneti.png
Sinh viên Trường Đại học Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp thực hành trên máy móc hiện đại tại xưởng. Ảnh: website nhà trường.

Tuy nhiên, bên cạnh những lợi thế và tiềm năng to lớn đó, cần thẳng thắn nhìn nhận thách thức về mức độ “sẵn sàng” và “năng lực thực thi”. Để AI thực sự trở thành động lực phát triển chứ không chỉ là “cơn sốt công nghệ” thoáng qua, Việt Nam cần một cú hích đột phá về thể chế, hạ tầng và nguồn nhân lực nhằm biến tiềm năng thành giá trị kinh tế cụ thể, có thể đo lường được.

Để tháo gỡ, thầy Quang cho rằng cần có giải pháp đồng bộ ở cả cấp độ quốc gia và cơ sở đào tạo. Thứ nhất, phải thay đổi nhận thức xã hội thông qua một chiến dịch truyền thông mạnh mẽ, giúp công chúng hiểu rằng AI không thay thế con người mà AI tăng cường năng lực con người.

Thứ hai, đẩy mạnh chiến lược giáo dục quốc gia, trong đó việc tích hợp AI vào các cấp học từ năm 2025 cần được triển khai quyết liệt để phổ cập năng lực hiểu biết về AI tương tự như tin học và ngoại ngữ trước đây.

Thứ ba, nâng cấp chất lượng nguồn nhân lực hiện có thông qua các khóa đào tạo ngắn hạn, linh hoạt và phù hợp với từng vị trí công việc như AI cho quản lý cấp trung, AI cho kế toán - kiểm toán hay AI cho kỹ sư vận hành nhà máy, giúp doanh nghiệp tăng năng suất ngay mà không gián đoạn sản xuất.

Còn theo Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Trường Thịnh - Viện trưởng Viện Công nghệ Thông minh và Tương tác, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, mức độ đầu tư từ Nhà nước và doanh nghiệp cho hoạt động nghiên cứu khoa học và đổi mới công nghệ tại các trường đại học hiện nay vẫn còn khá khiêm tốn so với tiềm năng và yêu cầu phát triển.

Trong những năm gần đây, Nhà nước đã có nhiều chính sách hỗ trợ như đặt hàng nhiệm vụ nghiên cứu, hình thành các quỹ khoa học và công nghệ, song tổng nguồn lực dành cho các trường vẫn chưa tương xứng với vai trò trung tâm nghiên cứu mà Nghị quyết 57 đã định hướng. Phần lớn kinh phí tập trung vào các chương trình ngắn hạn, trong khi nghiên cứu chuyên sâu, đặc biệt là trong các lĩnh vực công nghệ lõi như trí tuệ nhân tạo, vật liệu mới, robot hay dữ liệu lớn lại cần đầu tư dài hơi và ổn định.

Về phía doanh nghiệp, mức độ tham gia vào các hoạt động nghiên cứu chung với trường đại học vẫn còn hạn chế. Một phần do thiếu cơ chế khuyến khích cụ thể về thuế, chia sẻ lợi ích, hay bảo hộ sở hữu trí tuệ, khiến doanh nghiệp còn e ngại khi hợp tác. Mặt khác, mối liên kết giữa doanh nghiệp và đại học chưa thực sự bền chặt, doanh nghiệp thường có xu hướng tìm đến các giải pháp có sẵn thay vì đầu tư đồng hành cùng nhà khoa học ngay từ giai đoạn nghiên cứu.

sv-ueh.png
Sinh viên Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh nghiên cứu khoa học. Ảnh: website nhà trường.

Để xây dựng các đại học và viện nghiên cứu trở thành trung tâm nghiên cứu mạnh, có tính ứng dụng cao, theo Giáo sư Thịnh, cần một cơ chế tài chính linh hoạt và ổn định.

“Nhà nước nên chuyển từ mô hình “cấp phát theo đầu việc” sang “đầu tư theo năng lực và kết quả”, tức là các trường, viện có công trình khoa học chất lượng, sản phẩm ứng dụng thực tế hay có doanh thu từ chuyển giao công nghệ sẽ được ưu tiên phân bổ nguồn lực lâu dài. Cơ chế này không chỉ tạo động lực cạnh tranh lành mạnh mà còn khuyến khích các đơn vị tập trung vào những nghiên cứu mang giá trị bền vững cho xã hội.

Bên cạnh đó, cần hình thành quỹ đồng tài trợ giữa Nhà nước và doanh nghiệp cho các dự án nghiên cứu ứng dụng, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ trọng điểm như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn hay công nghệ tài chính. Doanh nghiệp tham gia không chỉ với vai trò nhà tài trợ mà còn là đồng sáng tạo, được chia sẻ quyền sở hữu trí tuệ và lợi ích kinh tế từ kết quả nghiên cứu.

Cùng với đó, nên có cơ chế khấu trừ thuế hoặc ưu đãi đầu tư cho các doanh nghiệp hợp tác với trường đại học trong nghiên cứu và chuyển giao công nghệ. Ngoài nguồn vốn, điều quan trọng là trao quyền tự chủ tài chính cho các trường và viện nghiên cứu, cho phép họ chủ động quyết định phương án đầu tư, hợp tác và thương mại hóa kết quả nghiên cứu mà không phải qua quá nhiều tầng nấc thủ tục.

Khi kết hợp được ba yếu tố nguồn lực ổn định, cơ chế linh hoạt và sự đồng hành của doanh nghiệp, tôi tin rằng các trường đại học và viện nghiên cứu Việt Nam hoàn toàn có thể trở thành các trung tâm sáng tạo thực thụ”, Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Trường Thịnh nhận định.

Thu hút chuyên gia đầu ngành là bài toán khó

Từ thực tiễn của đơn vị, Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Trường Thịnh cho biết, Viện Công nghệ Thông minh và Tương tác, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh đang quy tụ đội ngũ giảng viên và nhà khoa học có trình độ cao, tâm huyết và đặc biệt là tinh thần đổi mới sáng tạo mạnh mẽ. Tuy nhiên, Viện cũng đang phải đối mặt với không ít khó khăn mang tính hệ thống.

Thách thức đầu tiên là tình trạng khan hiếm nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực AI và công nghệ số, trong khi nhu cầu về giảng dạy, nghiên cứu và chuyển giao công nghệ lại tăng nhanh chưa từng có. Ở tầm quốc gia, nguồn nhân lực AI mới chỉ đáp ứng được một phần nhỏ so với yêu cầu phát triển; còn ở cấp cơ sở đào tạo, việc tìm kiếm và giữ chân giảng viên, nhà nghiên cứu giỏi càng trở nên nan giải.

Mức đãi ngộ, cơ chế tài chính và môi trường nghiên cứu ở khu vực công lập vẫn chưa đủ sức cạnh tranh với doanh nghiệp công nghệ hoặc các đại học quốc tế. Bên cạnh đó, giảng viên trong nước thường phải gánh vác nhiều đầu việc như hành chính, giảng dạy khiến thời gian và năng lượng dành cho nghiên cứu bị thu hẹp đáng kể. Điều này không chỉ làm giảm khả năng sáng tạo cá nhân mà còn khiến các đề tài nghiên cứu khó đạt được tính đột phá và ứng dụng thực tiễn sâu rộng như kỳ vọng.

gs-ts-ng-truong-thinh.png
Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Trường Thịnh - Viện trưởng Viện Công nghệ Thông minh và Tương tác, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: Website nhà trường.

Để thu hút và giữ chân giảng viên, nhà nghiên cứu có năng lực trong các lĩnh vực công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo hay công nghệ số, trước hết Việt Nam cần một cơ chế đãi ngộ đủ sức cạnh tranh và linh hoạt hơn so với hiện nay.

“Không chỉ dừng lại ở lương, thu nhập hay phụ cấp mà quan trọng hơn là môi trường làm việc sáng tạo, tự chủ và được tôn trọng về học thuật. Các nhà khoa học cần được tạo điều kiện thực sự để theo đuổi đam mê nghiên cứu, có thời gian và nguồn lực để công bố quốc tế, hợp tác với doanh nghiệp, và chuyển giao kết quả vào thực tiễn.

Tôi cho rằng, cần có chính sách đặc thù cho giảng viên và nhà nghiên cứu trong lĩnh vực công nghệ cao như cơ chế “hợp đồng theo năng lực” hay “lương theo hiệu quả nghiên cứu” nhằm khuyến khích đóng góp thực chất.

Đồng thời, chính sách luân chuyển học thuật và hợp tác quốc tế cũng rất quan trọng. Chỉ khi chúng ta tạo được một hệ sinh thái mở, coi trọng con người và khuyến khích sáng tạo thì đội ngũ trí thức công nghệ mới thực sự gắn bó, cống hiến và trở thành động lực phát triển quốc gia”, thầy Thịnh cho hay.

Đồng quan điểm, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hữu Quang đánh giá, Nghị quyết 57 xác định “nhân lực” là một trong những nội dung trọng tâm, cốt lõi; trong đó đội ngũ trí thức khoa học - công nghệ được xem là lực lượng nòng cốt kiến tạo tri thức và đổi mới sáng tạo. Để tăng cả số lượng lẫn chất lượng nguồn nhân lực này, không thể chỉ dựa vào một giải pháp đơn lẻ mà cần thực hiện đồng bộ ba yếu tố then chốt gồm đãi ngộ, thu hút và cơ chế.

Về chính sách đãi ngộ, hai quy định mới được xem là tạo ra bước chuyển đáng kể. Nghị định 179/2024/NĐ-CP cho phép chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành làm việc trong khu vực công được hưởng phụ cấp tăng thêm 300% mức lương hiện hưởng. Khi kết hợp với lộ trình cải cách tiền lương, mức thu nhập cơ bản của một chuyên gia cao cấp có thể vượt 58 triệu đồng/tháng.

Song song đó, Luật Công nghiệp công nghệ số đưa ra ưu đãi đặc biệt khi miễn thuế thu nhập cá nhân trong 5 năm đối với các chuyên gia số có tay nghề cao. Với hai chính sách mang tính đột phá này, thu nhập của một nhà khoa học AI hàng đầu tại Việt Nam hoàn toàn có khả năng cạnh tranh với các nước trong khu vực.

Về thu hút, các trường có thể tận dụng cơ chế “đặc cách bổ nhiệm” trong Nghị định 179/2024/NĐ-CP để mời chuyên gia công nghệ giỏi từ doanh nghiệp lớn hoặc nhà khoa học Việt kiều xuất sắc về làm việc, bổ nhiệm trực tiếp vào vị trí trưởng nhóm nghiên cứu mà không cần qua các bước trung gian.

Về cơ chế, các giải pháp cần được triển khai đồng bộ. Trước hết, phải bảo đảm tự chủ học thuật, giảm tối đa gánh nặng thủ tục để các nhà khoa học có thể toàn tâm cho chuyên môn. Song song đó là đầu tư hạ tầng, đặc biệt thông qua hợp tác công - tư nhằm phát triển các cụm máy chủ tính toán hiệu năng cao (GPU clusters), đây là nền tảng không thể thiếu cho nghiên cứu AI. Các trường đại học cũng cần xây dựng môi trường hợp tác, hình thành những viện hoặc trung tâm nghiên cứu AI liên ngành, tạo nên một “thung lũng sáng tạo” thu nhỏ nơi các ý tưởng lớn được ươm tạo.

Cuối cùng, việc giữ chân nhân tài phải được thực hiện bằng lộ trình nghề nghiệp rõ ràng, minh bạch, gắn lợi ích vật chất và giá trị học thuật của nhà khoa học với sự phát triển của nhà trường và quốc gia.

Thúy Hiền