Cơ cấu nguồn nhân lực Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình

29/11/2025 06:35
Lê Viết Khuyến - Phan Thị Ngọc Mai

GDVN -Để trở thành nước công nghiệp phát triển, Việt Nam cần xây dựng cơ cấu nhân lực đồng bộ, từ lao động cơ bản, kỹ thuật viên, kỹ sư, đến chuyên gia. 

Nguồn nhân lực là yếu tố quyết định trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Trong bối cảnh dân số Việt Nam đạt trên 100 triệu người, thời kỳ “dân số vàng” đang dần kết thúc, việc đào tạo và phân bổ nguồn lực con người hợp lý trở thành một trong những nhiệm vụ chiến lược cấp bách.

Cả nguồn lực tài chính và tài nguyên thiên nhiên của Việt Nam còn hạn chế, do đó nguồn nhân lực chất lượng cao sẽ là động lực chính cho tăng trưởng bền vững.

Để trở thành nước công nghiệp phát triển, Việt Nam cần xây dựng một cơ cấu nhân lực đồng bộ, từ lao động cơ bản, kỹ thuật viên, kỹ sư, đến chuyên gia, đáp ứng yêu cầu phát triển các ngành kinh tế chủ lực, trong đó có công nghiệp chế tạo, nông nghiệp công nghệ cao, dịch vụ chất lượng cao và công nghệ thông tin – bán dẫn.

Xu hướng quốc tế về cơ cấu nhân lực

Các quốc gia tiên tiến đang chứng kiến sự thay đổi mạnh mẽ về nhu cầu lao động trong kỷ nguyên 4.0, cụ thể:

Công nghiệp chế tạo, bán dẫn, công nghệ cao: yêu cầu kỹ sư, kỹ thuật viên chuyên ngành, nhân lực biết vận hành và bảo trì dây chuyền tự động, robot, AI.

Nông nghiệp công nghệ cao: cần kỹ thuật viên và chuyên gia quản lý hệ thống tưới tiêu, phân tích dữ liệu nông nghiệp, thiết kế hệ thống nhà kính thông minh.

Dịch vụ chất lượng cao và giáo dục: giáo viên, chuyên gia đào tạo kỹ năng nghề, quản lý dịch vụ logistics, y tế, du lịch cao cấp.

Khảo sát của OECD và Liên hợp quốc cho thấy, các nền kinh tế phát triển có cơ cấu lao động hình tháp, trong đó khoảng 50–60% là lao động cơ bản và kỹ thuật viên, 25–30% là kỹ sư, chuyên gia, và 10–15% là chuyên gia cấp cao hoặc quản lý chiến lược.

Bài học từ các quốc gia cho thấy nguồn nhân lực cần đồng bộ, đa tầng, gắn với nhu cầu thực tế của thị trường lao động, chứ không chỉ tập trung vào kỹ sư, cử nhân. Ví dụ:

Nhật Bản, Hàn Quốc: phân luồng sớm sau trung học cơ sở, đào tạo kỹ thuật viên tại trường nghề và trung học hướng nghiệp, liên thông lên cao đẳng – đại học, doanh nghiệp tham gia xây dựng chương trình.

Đài Loan (Trung Quốc): 72,7% học sinh chọn trung học nghề, 27,3% trung học phổ thông, tạo lực lượng công nhân lành nghề, kỹ thuật viên đồng bộ.

Singapore: hệ thống Polytechnics và ITE, liên kết doanh nghiệp, tỷ lệ có việc làm ngay sau tốt nghiệp trên 80%.

83aee3d5a97b25257c6a.jpg
Ảnh minh họa: Minh Chi

Thực trạng nguồn nhân lực Việt Nam

Cơ cấu theo trình độ

Theo Báo cáo Lao động – Việc làm 2022 của Tổng cục Thống kê cho thấy: Lao động không có chuyên môn kỹ thuật: 73,6%; Lao động qua dạy nghề dưới 1 năm: 7,1%; Trung cấp: 3,7%; Cao đẳng: 3,7%; Đại học: 11,9%.

Như vậy, hơn 80% lực lượng lao động Việt Nam hiện nay chưa đạt chuẩn kỹ thuật, chủ yếu đảm nhận vai trò lao động giản đơn. Đây là một thách thức lớn trong bối cảnh các ngành công nghiệp yêu cầu kỹ năng kỹ thuật cao.

Cơ cấu theo lĩnh vực: Công nghiệp chế tạo, điện tử, bán dẫn thiếu kỹ thuật viên vận hành, bảo trì thiết bị, kỹ sư thiết kế và sản xuất chip. Nông nghiệp thiếu phần lớn lao động chưa được đào tạo bài bản về nông nghiệp công nghệ cao, năng suất thấp, công nghệ chưa hiện đại. Dịch vụ chất lượng cao thiếu nhân lực quản lý, giáo viên, chuyên gia đào tạo nghề, du lịch cao cấp và y tế.

Thách thức nổi bật:

Đào tạo chưa đồng bộ do hệ thống trung cấp, cao đẳng chưa đủ năng lực, liên thông hạn chế.

Ngân sách giáo dục hạn chế dẫn đến chất lượng đào tạo không đồng đều, thiếu cơ sở vật chất hiện đại.

Thiếu liên kết doanh nghiệp khiến các chương trình đào tạo ít gắn kết thực tế, khó đáp ứng nhu cầu thị trường.

Thiếu cơ sở pháp lý cho liên thông và đánh giá kỹ năng nghề là rào cản lớn cho học sinh chọn nghề và phát triển kỹ năng.

Bảng cơ cấu lao động Việt Nam 2022 theo trình độ như sau:

Trình độ
Tỷ lệ (%)
Ghi chú
Lao động giản đơn
73,6
Không có chuyên môn kỹ thuật
Dạy nghề <1 năm
7,3
Thời gian đào tạo ngắn
Trung cấp
3,7
Đào tạo kỹ năng nghề cơ bản
Cao đẳng
3,7
Kỹ thuật viên, giáo viên, chuyên gia trung cấp
Đại học
11,9
Kỹ sư, quản lý, chuyên gia

Nhu cầu nhân lực Việt Nam

Dự báo theo lĩnh vực trọng điểm: Công nghiệp chế tạo và bán dẫn cần 100.000 – 150.000 kỹ sư, kỹ thuật viên trong 5–10 năm tới. Nông nghiệp công nghệ cao cần 200.000 – 250.000 lao động có kỹ năng, quản lý hệ thống tự động hóa, nhà kính, phân tích dữ liệu và lĩnh vực dịch vụ chất lượng cao gồm giáo viên kỹ năng nghề, nhân lực logistics, y tế, du lịch cao cấp cần khoảng 150.000 – 200.000 người.

Cơ cấu hợp lý: Lao động cơ bản và kỹ thuật viên: 50–60% lực lượng lao động; Kỹ sư và quản lý: 25–30%; Chuyên gia cấp cao: 10–15%.

Như vậy, Việt Nam cần triển khai mô hình “tháp nhân lực”, vừa đảm bảo lực lượng lao động cơ bản đông đảo, vừa phát triển kỹ sư, chuyên gia cho các ngành công nghiệp và dịch vụ chất lượng cao.

Giải pháp cho Việt Nam

Chiến lược đào tạo đồng bộ: Xây dựng chương trình đào tạo theo mô hình tháp nhân lực: từ dạy nghề – trung học nghề – cao đẳng – đại học – chuyên gia.

Đẩy mạnh phân luồng sau trung học cơ sở:

Mục tiêu tỷ lệ hợp lý: trung học phổ thông 40–50%, trung học nghề 50–60%.

Tránh tình trạng “đua” vào trung học phổ thông, tạo lực lượng lao động cơ bản đồng bộ.

Bổ sung luồng trung học phổ thông hướng nghiệp trong chương trình giáo dục phổ thông 2018:

Bổ sung các môn học nghề từ chương trình trung cấp nghề (do Tổng Cục giáo dục nghề nghiệp trước đây đã ban hành) vào các nội dung tự chọn của chương trình giáo dục phổ thông 2018 để mở ra cơ hội cho các trường trung học phổ thông chủ động xây dựng các “tổ hợp môn học” mang “định hướng nghề nghiệp” sâu hơn, đa dạng hơn.

Học sinh học luồng trung học hướng nghiệp khi thi tốt nghiệp trung học phổ thông chỉ phải thi 2 môn bắt buộc (Ngữ văn, Toán). Bằng trung cấp (nghề) có thể thay cho 2 môn thi tự chọn .

Học sinh học luồng trung học phổ thông được cấp bằng tốt nghiệp trung học phổ thông; học luồng trung học hướng nghiệp được cấp bằng trung học phổ thông hướng nghiệp (theo các nghề khác nhau). Cả hai loại bằng này đều có giá trị học vấn ngang nhau nên người học đều được quyền liên thông lên cao đẳng và đại học (theo các ngành đào tạo phù hợp) mà không cần phải học thêm bất cứ nội dung bổ sung nào. Riêng học sinh học luồng trung học hướng nghiệp khi tốt nghiệp được công nhận đạt chuẩn đầu ra của bậc 4 trung cấp tại Khung trình độ quốc gia Việt Nam, được quyền hành nghề phù hợp.

Liên thông và học tập suốt đời: Cơ chế liên thông từ trung học – cao đẳng – đại học; Khuyến khích học tập suốt đời, cập nhật kỹ năng công nghệ mới; Chuẩn hóa bằng cấp, bảo đảm quyền học tiếp, nâng trình độ kỹ thuật viên lên cao.

Gắn kết doanh nghiệp: Doanh nghiệp tham gia thiết kế chương trình, thực tập dài hạn, đánh giá kỹ năng; Hợp đồng đào tạo theo nhu cầu đặt hàng; Chương trình chuyển giao công nghệ và thực hành thực tế.

Quản trị và chính sách: Hội đồng cố vấn đa thành phần: doanh nghiệp, cơ quan quản lý, giảng viên; Cơ chế tài chính bền vững, học bổng, ưu đãi cho học sinh chọn nghề; Xóa bỏ rào cản pháp lý, cho phép trường trung học phổ thông dạy chương trình nghề, trường cao đẳng dạy trình độ trung học, cao đẳng.

Bảng phân chia về giải pháp chiến lược:

Giải pháp
Mục tiêu
Kết quả dự kiến
Phân luồng triệt để THCS/THPT
Cân đối lao động cơ bản và kỹ sư
Giảm lao động giản đơn từ 74% xuống <50%
Liên thông nghề – cao đẳng – đại học
Bảo đảm phát triển nhân lực chất lượng cao
Học sinh nghề có thể học tiếp đại học
Gắn kết doanh nghiệp
Kỹ năng sát thực tế, giảm thất nghiệp
>80% học sinh có việc làm sau tốt nghiệp
Học tập suốt đời
Nâng cấp kỹ năng theo công nghệ mới
Đảm bảo nguồn nhân lực đồng bộ, hiện đại

Ví dụ điển hình:

Trường Cao đẳng Kỹ thuật Cao Thắng (Thành phố Hồ Chí Minh): phối hợp doanh nghiệp điện tử, sinh viên thực tập 6 tháng tại nhà máy, 90% có việc làm sau tốt nghiệp.

Trường Trung cấp Nghề Cần Thơ: đào tạo nông nghiệp công nghệ cao, gắn kết doanh nghiệp, 80% sinh viên tiếp tục học cao đẳng hoặc đại học.

Các mô hình này cho thấy, nếu triển khai đồng bộ từ trung học cơ sở - trung học phổ thông – nghề – cao đẳng – đại học, kết hợp doanh nghiệp, Việt Nam sẽ tạo ra lực lượng nhân lực đồng bộ, đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa – hiện đại hóa.

Như vậy, để cơ cấu nguồn nhân lực quyết định tốc độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam. Để tận dụng thời kỳ dân số vàng và đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội:

Cần xây dựng cơ cấu nhân lực đồng bộ, theo mô hình tháp: lao động cơ bản, kỹ thuật viên, kỹ sư, chuyên gia.

Phân luồng học sinh sau trung học cơ sở và trung học phổ thông là nền tảng chiến lược để hình thành lực lượng kỹ thuật viên và công nhân lành nghề.

Liên thông học tập và học tập suốt đời giúp nâng trình độ, thích ứng công nghệ 4.0.

Gắn kết doanh nghiệp – cơ sở đào tạo – nhà nước tạo nguồn nhân lực sát nhu cầu thị trường.

Quản trị và chính sách tài chính bền vững đảm bảo lực lượng nhân lực chất lượng cao được phát triển liên tục.

Nếu thực hiện đồng bộ các giải pháp trên, Việt Nam sẽ có cơ cấu nhân lực hợp lý, đồng bộ, hiện đại, đáp ứng mục tiêu trở thành nước công nghiệp phát triển, thu nhập cao vào giữa thế kỷ XXI.

*Bài viết có tham khảo nguồn từ ChatGPT.

Lê Viết Khuyến - Phan Thị Ngọc Mai