Tranh chấp bản quyền truyền hình: VPF làm sai luật?

30/12/2011 10:03 LS Hoàng Kim Thoa (Đất Việt)
Vấn đề bản quyền truyền hình các giải bóng đá chuyên nghiệp Việt Nam đang trở nên rất nóng dù chỉ vài ngày nữa là Super League khởi tranh.
Giải bóng đá Ngoại hạng quốc gia và Giải bóng đá hạng Nhất quốc gia sẽ khởi tranh trong 1-2 ngày tới. Chính bởi thời điểm cận kề như vậy, tranh chấp về bản quyền truyền hình các giải đấu này giữa công ty CP bóng đá chuyên nghiệp Việt Nam (VPF) và Công ty CP Viễn thông và Truyền thông An Viên (AVG), càng trở nên rất nóng bỏng. Người ta không loại trừ khả năng, giữa 2 bên sẽ diễn ra một “cuộc chiến pháp lý”. Và cũng để phần nào đó làm sáng tỏ góc độ pháp lý của vấn đề này, chúng tôi xin giới thiệu bài viết của Luật sư Hoàng Kim Thoa thuộc Công ty Luật TNHH QTC.

Vấn đề bản quyền truyền hình các giải bóng đá chuyên nghiệp Việt Nam đang trở nên rất nóng dù chỉ vài ngày nữa là Super League khởi tranh. Ảnh: Như Ý.

1. Năm 2010, AVG đã ký hợp đồng mua độc quyền bản quyền truyền hình các giải bóng đá chuyên nghiệp Việt Nam trong 20 năm với VFF. Bằng chứng cho việc đó là ở mùa giải 2011 vừa qua, AVG đã bán bản quyền các giải đấu này cho các nhà đài. Khi VPF ra đời và đi vào hoạt động với nhiệm vụ tổ chức và điều hành các giải đấu bóng đá chuyên nghiệp của mùa 2012, họ muốn đàm phán lại hợp đồng này với AVG. Trên thực tế, trong công văn gửi AVG vào ngày 28/12, VPF thông báo họ đã được VFF bàn giao hợp đồng về bản quyền truyền hình mà trước kia VFF đã ký với AVG.

VPF cũng khẳng định họ nắm giữ bản quyền các giải đấu bóng đá chuyên nghiệp Việt Nam và đã có công văn số 20/VPF/2011 do Phó Chủ tịch HĐQT của VPF k‎ý gửi VTV vào ngày 29/12/2011. Trong công văn này, VPF cho phép VTV và các đơn vị truyền hình trực thuộc đài này được tuyên truyền, truyền hình trực tiếp  và phát lại các trận bóng đá của các giải bóng đá chuyên nghiệp Việt Nam như: Giải ngoại hạng; Hạng nhất; Cúp QG; Siêu cúp QG năm 2012.

Về vấn đề này, chúng ta có thể thấy: Hợp đồng được ký giữa AVG và VFF. Nếu không có sự đồng ý của AVG, thì VFF không có quyền chuyển giao quyền và nghĩa vụ cho VPF vì đối tượng của hợp đồng là bản quyền truyền hình đang do AVG nắm giữ. Cụ thể, theo quy định tại Điều 315 Bộ luật dân sự (BLDS) về Chuyển giao nghĩa vụ dân sự: “1.Bên có nghĩa vụ có thể chuyển giao nghĩa vụ dân sự cho người thế nghĩa vụ nếu được bên có quyền đồng ý, trừ trường hợp nghĩa vụ gắn liền với nhân thân của bên có nghĩa vụ hoặc pháp luật có quy định không được chuyển giao nghĩa vụ. 2.Khi được chuyển giao nghĩa vụ thì người thế nghĩa vụ trở thành bên có nghĩa vụ”.

Bên cạnh đó, Ðiều 316 BLDS về Hình thức chuyển giao nghĩa vụ dân sự quy định: “1. Việc chuyển giao nghĩa vụ dân sự được thể hiện bằng văn bản hoặc bằng lời nói. 2.Trong trường hợp pháp luật có quy định việc chuyển giao nghĩa vụ phải được thể hiện bằng văn bản, phải có công chứng hoặc chứng thực, đăng ký hoặc phải xin phép thì phải tuân theo các quy định”..

VPF thông báo họ đã được VFF bàn giao hợp đồng về bản quyền truyền hình mà trước kia VFF đã ký với AVG. Đồng thời, VPF muốn thương thảo với AVG về 2 nội dung: VPF muốn tách riêng hợp đồng bản quyền các giải đấu do họ tổ chức; Những hợp đồng này, VPF chỉ muốn thời hạn là 3 năm và có giá trị tối thiểu là 10 tỷ đồng. Trong khi đó, AVG lại khẳng định chỉ đàm phán với VPF sau khi đã thống nhất được với VFF bởi vì việc ký và thực hiện hợp đồng là giữa VFF với AVG, nếu có bất kỳ sự thay đổi nào (nếu có nhu cầu từ VFF) cần phải được thống nhất trước với AVG. Còn Phó chủ tịch VFF Lê Hùng Dũng khẳng định, VPF cần tuân thủ nguyên tắc kế thừa đối với các hợp đồng VFF đã ký. Bản quyền truyền hình các giải đấu vẫn thuộc sở hữu của VFF. VFF chỉ chuyển giao cho VFP quyền khai thác, sử dụng, và nếu cần thiết có thể đàm phán với các đối tác như AVG, nhưng phải trên tinh thần tôn trọng quyền của AVG. VPF không có quyền xé bỏ hợp đồng cũ.

Mặc dù hiện tại VPF là chủ sở hữu các giải đấu nhưng bản quyền truyền hình vẫn đang thuộc về AVG (trong hợp đồng giữa VFF và AVG ký vào cuối năm 2010, có câu: “Không một bên nào có quyền hủy ngang bất kỳ nội dung nào, vì bất cứ lý do gì”; Vấn đề bản quyền này còn được quy định trong điều lệ VFF). Do vậy nếu VPF muốn thương thảo lại hợp đồng trừ khi có sự thỏa thuận ba bên bằng văn bản về việc chuyển giao quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng đó và VFF vẫn là đơn vị đồng chịu trách nhiệm về các vấn đề liên quan trong hợp đồng và phải đảm bảo tính kế thừa, toàn vẹn của hợp đồng đã ký.

AVG đã quyết định chia sẻ miễn phí, chịu lỗ gần 200 triệu đồng với bản quyền phát sóng trận khai mạc giải hạng Nhất (Trẻ SHB.Đà Nẵng-Đồng Tâm.LA vào ngày 31/12) và V.League (SLNA-Thanh Hóa vào ngày 1/1/2012) cho các đài truyền hình. Như vậy, AVG đã rất thiện chí chờ đợi VFF và VPF thực hiện chuyển giao hợp đồng theo đúng quy định của pháp luật hiện hành.

2. Theo Quyết định số 20/2011/QĐ-TTg do Phó Thủ Tướng Nguyễn Thiện Nhân ký ngày 24/3/2011 ban hành quy chế quản ly hoạt động truyền hình trả tiền có hiệu lực từ ngày 15 tháng 5 năm 2011, quy định cụ thể:

Tại Điều 16. Bản quyền kênh chương trình trên truyền hình trả tiền

“2. Các kênh chương trình còn lại trên hệ thống truyền hình trả tiền, các chương trình trên dịch vụ truyền hình theo yêu cầu phải bảo đảm các yêu cầu về bản quyền như sau:

a) Có văn bản chứng minh bản quyền hợp pháp”.

Tại Điều 25. Quyền và nghĩa vụ của đơn vị cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền

“8. Được chủ động lựa chọn các kênh chương trình truyền hình trả tiền hợp pháp không thuộc danh mục kênh chương trình phục vụ nhiệm vụ chính trị, thông tin tuyên truyền thiết yếu theo quy định tại Quy chế này.

11. Hoạt động kinh doanh đúng pháp luật”.

Tại Điều 32. Xử lý vi phạm

“1. Mọi tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm các quy định của Quy chế này thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt vi phạm hành chính, thu hồi giấy phép hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật”.

Việc ông Nguyễn Đức Kiên- Phó Chủ tịch HĐQT của VPF ký công văn số 20/VPF/2011 cho phép VTV và các đơn vị truyền hình trực thuộc VTV được tuyên truyền, truyền hình trực tiếp và phát lại các trận bóng đá của các giải bóng đá mà không thông qua đàm phán với AVG, sẽ gây thiệt hại trực tiếp cho AVG.

Công văn trên không thể chỉ căn cứ vào Điều 53 Luật Thể thao, mà nó còn phải tuân theo quy định của Bộ luật Dân sự về hợp đồng. Theo nguyên tắc áp dụng luật thì công văn trên không áp dụng được cho trường hợp này, bởi vì đối tượng của hợp đồng bản quyền truyền hình là VFF & AVG, khi hai đối tác chưa có sự chuyển giao (hoặc thanh lý) hợp đồng bằng văn bản, thì VPF chưa phải là đối tượng điều chỉnh theo Điều 53 Luật Thể thao. Ngoài ra, nguyên tắc áp dụng luật còn theo thời gian ban hành và cần được các bên nghiêm chỉnh thực hiện.
LS Hoàng Kim Thoa (Đất Việt)