Những chiếc xe tăng chiến đấu chủ lực hàng đầu thế giới (II)

Theo QĐND
Vai trò của các đơn vị xe tăng chiến đấu chủ lực (MBT) luôn rất quan trọng trong mọi cuộc chiến.
Vai trò của các đơn vị xe tăng chiến đấu chủ lực (MBT) luôn rất quan trọng trong mọi cuộc chiến. Dù trong tác chiến hiện nay, vị thế này bị đe dọa nghiêm trọng bởi các dòng vũ khí chống thiết giáp hiện đại, nhưng MBT kết hợp với bộ binh vẫn là lực lượng chính giải quyết chiến trường.

T-90 (Nga) – Nhỏ, nhưng có "võ"

Xuất hiện trong thời điểm Liên xô đổ vỡ và việc duy trì cũng lúc hai dòng MBT (T-80 và T-72) trở nên tốn kém và không cần thiết, MBT T-90 được coi là “đứa con lai” của hai dòng tăng nổi tiếng nói trên.

Bản thân MBT T-90 vẫn sử dụng kết cấu thân của MBT T-72, nhưng lại được trang bị bổ sung một số hệ thống vũ khí có trên T-80 và toàn bộ trang thiết bị trên xe được nâng cấp lên chuẩn mới.

Là sản phẩm do Cục thiết kế Kartsev-Venediktov tại nhà máy  Uralvagonzavod ở Nizhny Tagil thiết kế từ năm 1992 với tên mã T-88, MBT T-90 có thể coi là phiên bản hiện đại hóa sâu của T-72 (T-72UD đổi tên).

Việc T-90 ra đời một phần đáp ứng nhu cầu về MBT mới của quân đội Nga, xuất khẩu và là bước đệm để chờ sự xuất hiện của dòng MBT thế hệ kế tiếp (ban đầu là T-95 và hiện tại là Armata).

MBT T-90A

Do chiến lược phát triển MBT của Nga, T-90 cũng như các dòng MBT của Liên xô trước đây đều có tổng trọng lượng không quá 50 tấn, nhỏ hơn đáng kể so với các dòng MBT của Phương Tây.

Ưu thế này đảm bảo sức cơ động (tỉ khối công suất động cơ/trọng lượng xe cao) và kích cỡ xe nhỏ khó phát hiện trên chiến trường (chiều cao thân xe thấp) của T-90.

Về kết cấu, do có kích thước nhỏ và trọng lượng nhẹ, MBT T-90 không thể trang bị các loại giáp hộp như MBT Phương Tây, nhưng để khắc phục, các nhà thiết kế Nga đã áp dụng việc trang bị modune giáp phản ứng nổ (ERA) và hệ thống gây nhiễu, phòng ngự chủ động (Shtora-1, Arena) trên xe tăng T-90.

Với trang bị ERA thế hệ 3 Kontakt-5 (phiên bản T-90AS đã được trang bị ERA thế hệ 4 Relikt), khả năng bảo vệ của T-90 tương đương 830 mm RHA đối với đạn xuyên dưới cỡ và khoảng 1.350 mm RHA đối với các loại đạn diệt tăng hóa năng.

Ngoài ra, việc tấn công T-90 còn gặp khó khăn do hệ thống gây nhiễu quang điện Shtora-1 và hệ thống phòng ngự chủ động Arena. Khả năng ngụy trang của T-90 còn được cải thiện nhờ lớp vải ngụy trang Nakidka.

Tuy nhiên, T-90 vẫn còn điểm yếu là việc kíp lái ngồi chung với khoang chứa đạn. Trong trường hợp xe bị bắn hạ, khoang đạn của T-90 rất dễ phát nổ giết chết toàn bộ tổ lái.

Hỏa lực chính của T-90 là pháo nòng trơn 125 mm 2A46M với các loại đạn xuyên dưới có cánh ổn định hướng (APFSDS), đạn xuyên hóa năng (HEAT-FS) và đạn phá mảnh (HE-FRAG).

Điểm đặc biệt ở T-90 là việc xạ thủ có thể cài thông số về khoảng cách mục tiêu vào đạn phá mảnh để điều khiển thời gian nổ của quả đạn giúp nâng cao hiệu xuất diệt sinh lực địch.

Ngoài ra, T-90 có thể sử dụng đạn tên lửa  bắn qua nòng  9M119M Refleks có thể tiêu diệt mục tiêu ở khoảng cách 100-6.000 m với khả năng xuyên 950 mm RHA. Đây là vũ khí “nối dài” giúp T-90 không chỉ bắn phương tiện cơ giới ở xa, mà còn cả các mục tiêu bay thấp (trực thăng) của đối phương.

Hệ thống ổn định nòng pháo sử dụng 4 con quay hồi chuyển giúp T-90 có thể bắn trong lúc di chuyển.

MBT T-90MS

Nhờ trang bị hệ thống nạp đạn tự động với 22 cơ số đạn trong băng giúp thời gian nạp đạn khoảng 5-8 giây/ viên, giảm số lượng thành viên kíp lái của T-90 còn 3 người, tiết kiệm không gian trong khoang xe, mà vẫn đảm bảo tốc độ bắn cao.

Ngoài diệt bộ binh, T-90 được trang bị súng máy đồng trục 7,62 mm với 7.000 cơ số đạn, súng máy phòng không 12,7 mm Kord.

Hệ thống điều khiển hỏa lực trên T-90 đảm bảo cho kíp lái có thể phát hiện các mục tiêu cơ xe tăng ở khoảng cách 5-8 km.

Các thiết bị ngắm đa chế độ (quang ảnh, ảnh nhiệt…) cho phép xạ thủ và trưởng xe bám bắt mục tiêu và quyết định khai hỏa chính xác.

Đảm bảo khả năng cơ động cho T-90 là động cơ đa nhiên liệu Model 84 V-84 12 xy lanh (T-90 thế hệ đầu) cung cấp 840 mã lực, còn ở phiên bản T-90AS là động cơ V-96 công suất tới 1.250 mã lực đảm bao cho “chiếc xe tăng nhỏ” này có thể cơ động với tốc độ 60-65 km/giờ trên đường và 45 km/giờ trong điều kiện dã chiến.

Tầm hoạt động của T-90 có thể đạt tới 650 km, nếu mang theo bình nhiên liệu phụ.

MBT Abrams (Mỹ) – Biểu tượng của sức mạnh lục quân Mỹ

Được Mỹ phát triển từ đầu những năm 1970 để thay thế cho thế hệ MBT M60, từ mẫu thực nhiệm XM815 và đến thời điểm hiện tại là thế hệ MBT M1A2 Abarams được coi là xe tăng tiêu chuẩn của quân đội Mỹ.

Điểm mạnh của dòng xe tăng Mỹ nằm ở khả năng cơ động cao, hỏa lực mạnh và được trang bị các trang thiết bị trong khoang hiện đại liên tục được cập nhật.

MBT Abrams cũng là dòng tăng liên tục được thử lửa trên chiến trường từ đầu những năm 1990 tới nay. Đây cũng là điều kiện giúp dòng xe tăng Mỹ này không ngừng được hoàn thiện.

M1A1 Abrams

Về cơ bản, các thế hệ MBT Abrams đều sử dụng các công nghệ lõi từ châu Âu (giáp, pháo chính) kết hợp với các yếu tố Mỹ (đạn xuyên dưới cỡ Uranium, trang thiết bị điện tử).

Hệ thống giáp đạn đạo của Abrams là  giáp Chobham và sắp tới là Burlington do Anh phát triển. Đây là thế hệ giáp composite, gồm nhiều lớp thép, gốm và vật liệu Kevlar tạo nên kết cấu “tổ ong”, cung cấp cho Abrams khả năng bảo vệ tương đương 1.320-1.620 mm RHA đối với đạn lõm và 940-960 mm RHA đối với đạn xuyên dưới cỡ.

Ngoài ra, mặt trước tháp pháo của tăng Abrams còn được lắp đặt khiên chắn làm bằng Uranium nén (DU) cho phép cài thiện khả năng bảo vệ mặt trước của xe. Các yếu tố bảo vệ này đã được chứng minh bằng việc Mỹ mất rất ít xe tăng Abrams trong cuộc chiến vùng Vịnh lần 1 (1990) và các cuộc xung đột gần đây.

Kết cấu khoang đạn của Abrams với phần nắp phía trên được thiết kế mở giúp phát tán sức công phá nếu đạn trong xe phát nổ. Đây là yếu tố giúp năng sống sót của tổ lái khi xe bị bắn hạ.

Trang bị hỏa lực của MBT Abrams phiên bản đầu là pháo nòng xoắn M68A1 105 mm dựa trên cơ sở pháo L7 của Anh.

Tuy nhiên, sau năm 1990, pháo nòng trơn 120 mm M256A1 dựa trên cơ sở pháo L44 trên xe tăng Leopard 2 đã thay thế M68A1 làm trang bị tiêu chuẩn trên thế hệ MBT M1A1. Đây cũng là bước tiến, cho phép Mỹ phát triển các loại đạn chống tăng dưới cỡ làm từ Uranium nén của riêng mình.

Kết hợp với pháo chính trên xe tăng Abrams là súng máy đồng trục  M240 7,62 mm và súng phòng không 12,7 mm M2HB trên nóc tháp pháo. Khi cần thiết, MBT Abrams cũng có thể tăng cường thêm súng máy nòng xoay M134 5,56 mm và súng máy M240 trên tháp pháo.

M1A2 SEP

Một thế mạnh khác nữa của MBT Abrams là việc hệ thống quan sát của trưởng xe và xạ thủ được tách riêng giúp xe có liên lục theo dõi 2 mục tiêu làm giảm thời gian chờ giữ các lần tác xạ.

Cùng với đó, trang thiết bị trên xe đều được số hóa và liên kết với nhau theo chuẩn C4I giúp nâng cao khả năng tác chiến hiệp đồng binh chủng.

Cung cấp sức mạnh cơ động cho MBT Abrams là động cơ gas-turbin đa nhiên liệu  Honeywell AGT 1500 công suất 1.500 mã lực giúp chiếc xe tăng nặng tới trên 68 tấn có thế chạy với tốc độ 68 km/giờ trên đường và 48 km/giờ khi dã chiến. Dự trữ hành trình của xe tăng Abrams là khoảng 426 km.

Điểm mạnh của động cơ gas-turbin so với diesel là khả năng tăng tốc nhanh, trọng lượng nhẹ và thể tích nhỏ, nhưng nó lại sử dụng quá nhiều nhiên liệu, hoạt động ồn ào và độ tin cậy thấp trong các điều kiện hoạt động khắc nghiệt.

 

 

Theo QĐND
Đang tải tin...