Sức mạnh tăng chiến trường M1 Abrahams của Lục quân Mỹ (P1)

(GDVN) - M1 Abrams là loại xe tăng chủ lực do hãng General Dynamics của Hoa Kỳ sản xuất năm 1980, theo thiết kế của Chrysler Defense. Tên hiệu xe được đặt theo tên của Creigton Williams Abrams Jr, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân Hoa Kỳ kể từ tháng 12 năm 1972 đến trước khi ông qua đời vào năm 1974. Hiện tại, đây là loại xe tăng chiến đấu chủ lực thông dụng nhất trong quân đội Hoa Kỳ.
Thông số chính của xe: Khối lượng chiến đấu 54,1 tấn, kíp xe 4 người. Thân xe dài 7,92 m (cả pháo quay phía trước 9,77 m); rộng 3,65 m; cao 2,38 m (đến nóc tháp pháo).
Động cơ tuabin khí; công suất 1,100kw (1,500vc); khả năng leo dốc 30 độ; vách đứng 1,24 m; hào rộng 2,77 m; lội nước sâu 1,22 m (không có thiết bị lội ngầm).
Tốc độ lớn nhất 72,4km/h; hành trình dự trữ 500 km. Vũ khí: pháo rãnh xoắn 105 mm ổn định trong hai mặt phẳng (đạn biên chế 55 viên); súng máy 7,62 mm (đạn biên chế 11400 viên); súng máy phòng không 12,7 mm (đạn biên chế 1000 viên).
M1 Abrahams được trang bị hệ thống điều khiển hoả lực có máy tính đường đạn, máy đo xa laser, kính ngắm ảnh nhiệt ...
Biến thể M1A1 được sản xuất từ 1985 có khối lượng chiến đấu 57,2t; tốc độ lớn nhất 66,77km/h, pháo nòng trơn (đạn biên chế 40 viên); dài (cả pháo) 9,83m; rộng 3,66m; cao 2,44m (đến nóc tháp pháo); vỏ được tăng cường lớp hợp kim có thành phần uran nghèo ...
Trên cơ sở M1, đã sản xuất xe bắc cầu hạng nặng HAB, xe tăng phá mìn TMMCR, xe sửa chữa, cứu kéo ARV-90.
Các xe M1 (-1A1) đã được sử dụng trong chiến tranh vùng Vịnh năm 1991 và đang được xuất khẩu sang nhiều nước khác.
Động cơ của xe tăng Abram là động cơ AGT-1500 đa nhiên liệu kiểu turbine khí.
Động cơ turbine khí nhỏ hơn và có ít bộ phận hơn và ít ồn hơn so với động cơ piston có cùng công suất. Tuy nhiên động cơ turbine khí tốn nhiều nhiên liệu hơn và toả nhiều nhiệt hơn so với động cơ piston. Động cơ AGT-1500 có trọng lượng khoảng 3,855kg.
Nguyên lý hoạt động của động cơ turbine khí là hút không khí vào trong một máy nén có áp suất cao. Tại đây, không khí được trộn với nhiên liệu và đốt cháy.
Luồng hơi nóng có áp suất cao từ máy nén thổi tiếp vào trong làm xoay cánh quạt turbine, vận hành động cơ. Sau đó luồng hơi được thải 1 phần, một phần luồng hơi được đưa vào bộ thu hồi khí để sử dụng lại. Hệ thống bánh răng truyền động truyền lực xoay của cánh quạt vào 2 bánh xe chủ động ở sau xe. Cuối cùng, động cơ của M1 là loại không khói.
Hệ thống treo của M1 bao gồm 7 thanh đòn nối với bánh xe đi đường ở mỗi bên thân xe. Các thanh đòn này có trục ở giữa để gắn hai bánh xe đi đường lại với nhau thành một bánh đôi. 14 thanh đòn này được nối với nhau bằng các thanh xoắn làm từ thép có độ cứng cao.
Với ưu tiên thiết kế hàng đầu là bảo vệ tố lái, M1 Abram là một trong những loại xe tăng an toàn nhất thế giới ngay cả khi giáp xe không cản nổi đạn của đối phương.
Như hầu hết các loại xe tăng được thiết kế vào thời chiến tranh lạnh, giáp xe tăng Abram được tập trung dày nhất ở 60 độ trước xe. Giáp của Abram là loại giáp Burlington theo tên gọi của Mĩ hay Chobham theo tên gọi của Anh. Giáp Chobham có khả năng chống đạn cao hơn nhiều lần so với thép thường.
Tăng chiến trường M1 Abrahams của Lục quân Mỹ
Tăng chiến trường M1 Abrahams của Lục quân Mỹ
Tăng chiến trường M1 Abrahams của Lục quân Mỹ
Tăng chiến trường M1 Abrahams của Lục quân Mỹ
Tăng chiến trường M1 Abrahams của Lục quân Mỹ
Tăng chiến trường M1 Abrahams của Lục quân Mỹ
Tăng chiến trường M1 Abrahams của Lục quân Mỹ
Tăng chiến trường M1 Abrahams của Lục quân Mỹ
Tăng chiến trường M1 Abrahams của Lục quân Mỹ
Tăng chiến trường M1 Abrahams của Lục quân Mỹ
Tăng chiến trường M1 Abrahams của Lục quân Mỹ
Tăng chiến trường M1 Abrahams của Lục quân Mỹ
Tăng chiến trường M1 Abrahams của Lục quân Mỹ
Tăng chiến trường M1 Abrahams của Lục quân Mỹ
Tăng chiến trường M1 Abrahams của Lục quân Mỹ
Tăng chiến trường M1 Abrahams của Lục quân Mỹ
Lê Mai (theo US Army)
Đang tải tin...