Trong khuôn khổ Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV, tham gia thảo luận tại Tổ 7 (Đoàn Đại biểu Quốc hội các tỉnh Nghệ An, Lâm Đồng), Giáo sư, Tiến sĩ Thái Văn Thành - Đại biểu Quốc hội tỉnh Nghệ An có chia sẻ: “Đối với Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi), cần phát huy mạnh hơn nữa vai trò của doanh nghiệp trong đào tạo... Doanh nghiệp phải tham gia thực chất vào quá trình xây dựng chương trình, tổ chức thực hành, đánh giá tay nghề, và Nhà nước cần có cơ chế khuyến khích, ưu đãi để thúc đẩy gắn kết này”.
Đại biểu cũng đề nghị tăng thời lượng thực hành, quy định rõ tỷ lệ học tại doanh nghiệp, để bảo đảm sinh viên tốt nghiệp có năng lực nghề nghiệp thực tế, sẵn sàng đáp ứng yêu cầu thị trường lao động...
Phía các cơ sở giáo dục nghề nghiệp đánh giá điều này là cần thiết, đồng thời đưa ra thêm một số đề xuất để triển khai hợp tác nhà trường và doanh nghiệp hiệu quả.
Tăng tỷ lệ học tại doanh nghiệp mang lại nhiều lợi ích
Chia sẻ thực tế việc học tại doanh nghiệp của đơn vị, trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Thạc sĩ Nguyễn Đức Long - Trưởng phòng Phòng Đào tạo, Trường Cao đẳng Nông Lâm Đông Bắc cho biết, hiện nay, theo quy định của khung chương trình đào tạo giáo dục nghề nghiệp, phần lý thuyết dao động từ 25 - 35%; nội dung thực hành chiếm khoảng 65-75%.
Thực tế, tỷ lệ học tại doanh nghiệp của sinh viên nhà trường tương đối thấp, chiếm khoảng 10 - 15% trong tổng thời gian đào tạo. Tuy nhiên, tỷ lệ này có thể thay đổi tùy thuộc vào từng ngành nghề và mức độ hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp. Những ngành, nghề khối kỹ thuật bắt đầu học tập tại doanh nghiệp từ năm thứ 2; những nhóm ngành nghề khác chủ yếu tập trung vào thời điểm thực tập tốt nghiệp.
Thầy Long phân tích: "Khi tăng tỷ lệ học tại doanh nghiệp sẽ mở ra nhiều cơ hội thiết thực cho sinh viên. Trước hết, các em được tiếp cận thực tế công việc, học cách áp dụng lý thuyết vào công việc, cải thiện kỹ năng mềm (giao tiếp, làm việc nhóm) và kỹ năng chuyên môn trong môi trường làm việc thực tế.
Ngoài ra, sinh viên nâng cao đáng kể khả năng giải quyết vấn đề. Khi đối diện với các tình huống thực tế, các em buộc phải tư duy linh hoạt, đưa ra giải pháp hiệu quả, từ đó phát triển tư duy phản biện và khả năng làm việc độc lập.
Đồng thời, việc tiếp xúc sớm với văn hóa doanh nghiệp giúp sinh viên làm quen với quy trình, chuẩn mực, phong cách làm việc chuyên nghiệp. Các em được rèn luyện để trở nên linh hoạt, thích ứng nhanh với môi trường thay đổi liên tục - yêu cầu bắt buộc trong nền kinh tế năng động, cạnh tranh toàn cầu hiện nay".
Để việc học tại doanh nghiệp thực sự hiệu quả, Thạc sĩ Nguyễn Đức Long chỉ ra cần có các cơ chế như:
Đảm bảo chất lượng hướng dẫn. Theo đó, doanh nghiệp cần cung cấp đội ngũ giảng viên hoặc người hướng dẫn có trình độ chuyên môn cao, đào tạo bài bản để có thể đảm bảo chất lượng học tập và thực hành cho sinh viên. Các giảng viên này nên có sự phối hợp với giảng viên trường để cập nhật kiến thức, chương trình đào tạo.
Đánh giá kỹ năng thực tế, có hệ thống đánh giá chuẩn hóa để đánh giá kỹ năng của sinh viên trong suốt quá trình thực hành tại doanh nghiệp, giúp sinh viên hiểu rõ điểm mạnh và điểm yếu của bản thân.
Phải đảm bảo an toàn lao động cho người học, các cơ sở doanh nghiệp cần có quy trình về an toàn lao động cho sinh viên khi thực tập. Nhà trường cũng cần phối hợp tổ chức các khóa huấn luyện về an toàn lao động cho sinh viên trước khi bước vào thực hành tại doanh nghiệp.
Với quan điểm của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Tiến Đông - Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Lý Thái Tổ, thực tế không phải doanh nghiệp nào cũng đủ năng lực tham gia sâu vào đào tạo nghề, chỉ một số doanh nghiệp chủ lực mới đáp ứng được yêu cầu.
Vì vậy, để việc học tại doanh nghiệp của sinh viên đạt chất lượng thực sự, cần ưu tiên xây dựng các chương trình đào tạo giảng viên nội bộ bài bản, giúp nhân lực tại doanh nghiệp nắm vững phương pháp sư phạm bên cạnh chuyên môn sản xuất.
Nếu chỉ quy định cứng về mặt thời lượng học tại doanh nghiệp mà không quan tâm đến vấn đề người hướng dẫn sẽ dễ dẫn đến hình thức hóa. Nhà trường gửi sinh viên đến doanh nghiệp nhưng nếu nơi tiếp nhận thiếu kỹ năng giảng dạy, không thể giúp các em tích lũy được kiến thức và kỹ năng phù hợp vị trí việc làm. Do đó, cần thiết lập hệ thống đo lường hiệu quả đầu ra rõ ràng, dựa trên năng lực thực tế mà sinh viên đạt được sau quá trình học tập tại doanh nghiệp.
Đặc biệt, cần có sự linh động về địa điểm để các trường chủ động trong việc sắp xếp thời lượng học tại doanh nghiệp hay học tại nhà trường. Mô hình learning factory - đưa không gian nhà máy vào khuôn viên trường học đang được nhiều cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên thế giới và tại Việt Nam áp dụng. Giải pháp này không chỉ khắc phục vấn đề khoảng cách địa lý, giảm chi phí đi lại cho nhà trường mà còn đảm bảo sinh viên tiếp cận môi trường thực hành liên tục, ổn định.
Không kém phần quan trọng đó là sự cam kết đồng hành của doanh nghiệp. Tại các nước ASEAN như Thái Lan, Indonesia... đã có cơ chế bắt buộc doanh nghiệp tham gia quá trình đào tạo, doanh nghiệp phải tuyển dụng những sinh viên đã được đào tạo, có chứng chỉ nghề…
Tại Việt Nam, mô hình này vẫn gặp khó khăn do doanh nghiệp chưa chịu áp lực phải thực hiện, nhận thức về lợi ích hợp tác đào tạo chưa đầy đủ, và đặc biệt thiếu đội ngũ giảng viên nội bộ đủ năng lực đứng lớp. Vì vậy, bước đầu tiên và then chốt là ban hành quy định, cơ chế rõ ràng để việc hợp tác giữa trường và doanh nghiệp thành trách nhiệm chung.
Theo quan điểm của Thạc sĩ Phạm Văn Điều - Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Gia Lai, để việc đưa sinh viên đến học tập tại doanh nghiệp thực sự hiệu quả, cơ quan quản lý nhà nước cần ban hành cơ chế, chính sách cụ thể.
Trong đó, cần quy định rõ quyền lợi của người hướng dẫn tại doanh nghiệp, đồng thời giảm bớt các yêu cầu thủ tục hành chính. Ngoài ra, cần có chính sách hỗ trợ chi phí bồi dưỡng cho giáo viên và người hướng dẫn, tạo động lực để họ tham gia vào quá trình đào tạo.
Nhằm đảm bảo chất lượng, nhà trường và doanh nghiệp có thể cùng tham gia xây dựng chương trình, xác định mục tiêu kỹ năng nghề và kiểm tra năng lực thực tế của sinh viên sau khi hoàn thành đợt học tập tại doanh nghiệp.
Được biết, thời lượng học tập tại doanh nghiệp của sinh viên Trường Cao đẳng Gia Lai (đối với từng nhóm nghề) là khoảng 30 - 35%, chia thành 2 giai đoạn, kiến tập và thực tập tốt nghiệp.
Tỷ lệ học tại doanh nghiệp tối thiểu có thể là 30%
Trước thực tế tỷ lệ dạy tại doanh nghiệp chưa cao, Thạc sĩ Nguyễn Đức Long, cho biết nhà trường dự kiến sẽ tăng con số này lên 25 - 30%. Đơn vị có kế hoạch xây dựng chương trình đào tạo gắn với nhu cầu của doanh nghiệp, ký biên bản hoặc hợp đồng phối hợp đào tạo giữa nhà trường và doanh nghiệp. Đồng thời, đào tạo đặt hàng với doanh nghiệp, gắn trách nhiệm của doanh nghiệp với hoạt động đào tạo của cơ sở giáo dục.
Nhằm phát huy thực chất vai trò của doanh nghiệp trong đào tạo nghề, Thạc sĩ Nguyễn Đức Long đề xuất chính sách khuyến khích tài chính. Nhà nước có thể cung cấp các miễn giảm thuế, hỗ trợ chi phí đào tạo cho doanh nghiệp tham gia vào chương trình đào tạo thực hành cho sinh viên. Doanh nghiệp có thể được ưu đãi nếu họ đồng hành trong việc xây dựng chương trình giảng dạy hoặc tham gia đào tạo thực tế.
Cùng với đó là chính sách hợp tác dài hạn. Nhà nước có thể ban hành các chính sách khuyến khích doanh nghiệp hợp tác lâu dài với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp để đảm bảo rằng mô hình đào tạo kép giữa trường học và doanh nghiệp có tính bền vững.
Hỗ trợ cơ sở vật chất cũng là yếu tố then chốt. Nhà nước có thể cung cấp cơ sở vật chất, thiết bị để phục vụ việc thực hành cho sinh viên. Điều này đặc biệt quan trọng với các ngành nghề đòi hỏi sử dụng máy móc và thiết bị hiện đại.
Song song với đó, lợi ích của doanh nghiệp phải được đảm bảo. Nhà nước có thể có các chính sách hỗ trợ chi phí cho các doanh nghiệp tham gia vào đào tạo nghề, hoặc đưa ra các cơ chế chia sẻ lợi ích khi sinh viên sau khi tốt nghiệp từ các chương trình này được tuyển dụng tại doanh nghiệp.
Cuối cùng, cần giảm bớt những thủ tục không cần thiết để khuyến khích những kỹ sư có tay nghề tham gia đào tạo, hướng dẫn sinh viên (các chứng chỉ sư phạm…)
Dưới góc nhìn của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Tiến Đông, để nhà trường cùng doanh nghiệp tạo nên mô hình đào tạo kép bền vững, Nhà nước nên kêu gọi những doanh nghiệp chủ lực đứng ra làm đầu chuỗi, chủ động triển khai các chương trình nội bộ, thiết kế phát triển, xây dựng các chương trình đào tạo trong doanh nghiệp, sau đó chia sẻ, nhân rộng sang các doanh nghiệp trong cùng chuỗi cung ứng và các trường thuộc khối giáo dục nghề nghiệp.
"Hiện nay chúng ta đang khuyến khích cơ chế về sandbox (cơ chế thử nghiệm có kiểm soát), do đó nên giao cho một số doanh nghiệp tiêu biểu trong những lĩnh vực cụ thể thực hiện trước. Trong quá trình triển khai kịp thời tháo gỡ các vướng mắc, từ đó hình thành nên những case study (trường hợp điển hình), best practices (phương pháp chuẩn mực) để lan tỏa sang các ngành nghề khác.
Đó cũng là cách chúng ta tạo ra những quick-win (lợi ích thấy ngay) hoặc fail fast, fail smart (thất bại nhanh, thất bại thông minh) sẽ hiệu quả hơn việc nghiên cứu cơ chế tổng thể rồi mới áp dụng, mất nhiều thời gian mới có thể đo lường hiệu quả.
Vì vậy, cần ban hành thông tư hoặc hướng dẫn quy định rõ ràng hơn về cơ chế sandbox để thực hiện trong giáo dục nghề nghiệp, hợp tác doanh nghiệp để các trường yên tâm thực hiện. Nhiều đơn vị mong muốn thử nghiệm nhưng chưa có hướng dẫn nên còn e ngại, làm hạn chế khả năng sáng tạo và sự tự chủ của các đơn vị giáo dục nghề nghiệp hiện nay" - thầy Đông nói.
Với góc nhìn của Thạc sĩ Phạm Văn Điều, tỷ lệ học tại doanh nghiệp nên được quy định linh hoạt, tùy vào đặc thù từng lĩnh vực, mức tối thiểu có thể là 30%, tăng lên 70% tùy ngành nghề và đặc điểm của từng vùng kinh tế xã hội.
Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Gia Lai nhấn mạnh sự phối hợp đồng bộ giữa các bộ, ngành là yếu tố then chốt. Chính phủ cần sớm ban hành nghị định hoặc quy định thống nhất về phối hợp giữa doanh nghiệp và cơ sở giáo dục nghề nghiệp.
“Nên có hội nghị, hội thảo cấp bộ với sự tham gia của các trường, doanh nghiệp lớn để cùng bàn luận, đưa ra cơ chế chung sau đó trình Chính phủ xem xét. Cơ sở giáo dục, doanh nghiệp, cơ quan quản lý cần nói rõ vai trò, trách nhiệm và quyền lợi của mình khi tham gia hoạt động hợp tác” - thầy Điều đề xuất.
Vị hiệu trưởng nhìn nhận, tất cả các trường nghề đều mong muốn hợp tác chặt chẽ hơn với doanh nghiệp, vì đây là hướng đi đúng để nâng cao chất lượng đào tạo. Tuy nhiên, thực tế còn nhiều vướng mắc, mỗi trường có đặc điểm riêng về ngành nghề, mối quan hệ với doanh nghiệp và điều kiện kinh tế - xã hội địa phương khác nhau, nên cần một cơ chế mở, có tính linh hoạt cao.