Trường ĐH Hàng hải Việt Nam tổ chức hội thảo về "Kỹ thuật, Công nghệ Hàng hải và Logistics"

15/05/2026 15:45
LÃ TIẾN
Theo dõi trên Google News
0:00 / 0:00
0:00

GDVN - Sáng ngày 15/5, Trường Đại học Hàng hải Việt Nam tổ chức Hội thảo khoa học quốc gia "Kỹ thuật, Công nghệ Hàng hải và Logistics" - METLog 2026. Hội thảo thu hút được sự tham gia của nhiều chuyên gia, nhà khoa học trong lĩnh vực hàng hải và logistics.

Phát biểu khai mạc hội thảo, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Minh Đức - Phó Hiệu trưởng nhà trường cho hay: Trải qua 70 năm xây dựng và phát triển, Trường Đại học Hàng hải Việt Nam luôn tự hào là trường trọng điểm quốc gia về đào tạo, nghiên cứu phục vụ phát triển bền vững kinh tế biển giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1901/QĐ-TTg ngày 05/9/2025 của Thủ tướng Chính phủ.

Để tiếp tục khẳng định vị thế đó, Hội thảo METLog 2026 được tổ chức với chủ đề: "Phát triển bền vững và thông minh cho ngành Hàng hải và Logistics Việt Nam trong kỷ nguyên số". Đây không chỉ là một diễn đàn học thuật uy tín mà còn là cầu nối thiết thực giữa nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn, nhằm tìm ra những giải pháp đột phá để giải quyết những thách thức cấp thiết trong lĩnh vực hàng hải và logistics tại Việt Nam.

Trong suốt thời gian phát động, Ban Tổ chức đã nhận được sự quan tâm, gửi bài viết từ đông đảo các nhà khoa học, chuyên gia và các học viên cao học, nghiên cứu sinh của nhà trường. Các bài báo khoa học đều phải trải qua quy trình phản biện kín hai chiều nghiêm ngặt nhằm đảm bảo tính khách quan và chất lượng học thuật cao nhất trước khi được lựa chọn trình bày và đăng trong Kỷ yếu Hội thảo có chỉ số ISBN.

2aoboqwww6i6ubj8bn5k4p87knveuizjam1zrrik.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Minh Đức - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Hàng hải Việt Nam.

Chương trình khoa học và công nghệ biển thành phố Hải Phòng đến năm 2030

Chương trình hội thảo được thiết kế với hàm lượng khoa học cao và bám sát thực tiễn. Phiên toàn thể là các tham luận định hướng mang tính chiến lược từ các chuyên gia quản lý nhà nước và doanh nghiệp đầu ngành.

Thạc sĩ Phạm Thị Sen Quỳnh – Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Hải Phòng đã có bài tham luận về “Chương trình khoa học và công nghệ biển thành phố Hải Phòng đến năm 2030”.

Theo đó, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố Hải Phòng lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030 nhấn mạnh phát triển thành phố trở thành: Trung tâm kinh tế biển, du lịch chất lượng cao, dịch vụ logistics và năng lượng sạch hàng đầu cả nước, trung tâm quốc tế về đào tạo, nghiên cứu, ứng dụng và phát triển khoa học - công nghệ biển.

Quyết định số 5262/QĐ-UBND ngày 26/12/2025 của Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng ban hành Chương trình Khoa học và Công nghệ biển thành phố Hải Phòng đến năm 2030 nêu nội dung trọng tâm đến năm 2030 là nghiên cứu, ứng dụng, phát triển công nghệ trong các ngành, lĩnh vực biển; Đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực biển; Tăng cường tiềm lực khoa học và công nghệ biển; Hợp tác trong nước, quốc tế về khoa học và công nghệ biển.

Mục tiêu chung đến năm 2030 là Hải Phòng trở thành trung tâm đào tạo, nghiên cứu, ứng dụng và phát triển khoa học, công nghệ biển tương đương với các khu vực thuộc nhóm hàng đầu ở Đông Nam Á. Đến năm 2045 Hải Phòng trở thành Trung tâm khoa học biển hàng đầu cả nước, có vai trò dẫn dắt khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, đồng bộ với chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam.

Một số chỉ tiêu cụ thể đến 2030 là có 30% nhiệm vụ R&D trong lĩnh vực biển. Ít nhất 60% kết quả nghiên cứu được ứng dụng trong thực tiễn sau 12 tháng. Kinh phí chi hoạt động R&D trong lĩnh vực biển chiếm 30%. Có ít nhất 1 phòng thí nghiệm trọng điểm về biển và 1 trung tâm nghiên cứu sinh học biển; có 50-100 bài báo khoa học biển/năm. Xây dựng bộ cơ sở dữ liệu số về biển của thành phố.

Nghiên cứu, ứng dụng, phát triển công nghệ trong các ngành, lĩnh vực: Lĩnh vực quản trị biển, môi trường biển, biến đổi khí hậu và bảo tồn đa dạng sinh học; Lĩnh vực kinh tế hàng hải, logistics, công nghiệp biển; Lĩnh vực du lịch biển; Lĩnh vực thuỷ sản và dược liệu biển; Lĩnh vực năng lượng tái tạo; các ngành kinh tế biển mới; Lĩnh vực y học biển.

2aoboqwww7toxii6ghw2ygycnnquy8v2wjvtwu1a.jpg
Tham luận của Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Hải Phòng về “Chương trình khoa học và công nghệ biển thành phố Hải Phòng đến năm 2030”.

Theo Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Hải Phòng để đạt được những mục tiêu này cần thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ. Cụ thể:

Tổ chức khoa học và công nghệ biển cần phối hợp đầu tư nâng cấp, nâng cao năng lực nghiên cứu, đào tạo, cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm, trang thiết bị chuyên ngành biển. Có cơ chế, chính sách vượt trội thu hút, tăng cường liên kết trường, viện, trung tâm, doanh nghiệp và khu ươm tạo…

Phát triển nhóm nghiên cứu mạnh về khoa học và công nghệ biển đạt trình độ khu vực và châu Á. Đào tạo và bồi dưỡng nhân lực số cho khoa học và công nghệ biển. Hỗ trợ các trường đại học, cao đẳng thiết kế, triển khai các ngành đào tạo mới về khoa học biển, công nghệ biển, kinh tế biển. Có cơ chế khuyến khích doanh nghiệp lĩnh vực biển tiếp nhận sinh viên thực tập, gắn nghiên cứu với thực tiễn, thu hút chuyên gia và nhân lực trình độ cao trong nước và quốc tế.

Phát triển phòng thí nghiệm đạt chuẩn hiện đại, xây dựng cơ sở dữ liệu biển tích hợp. Hình thành hạ tầng thử nghiệm công nghệ biển, phát triển trung tâm phân tích dữ liệu biển.

Bảo đảm hạ tầng an ninh mạng, lưu trữ, sao lưu dữ liệu cho các nền tảng số, cơ sở dữ liệu biển. Tích hợp dự án xây dựng Công viên khoa học và công nghệ. Nghiên cứu đề xuất thành lập Trung tâm công nghệ sinh học biển, Bảo tàng biển, Khu ươm tạo công nghệ biển. Phát triển mạng lưới thông tin khoa học và công nghệ thành phố. Phát triển hệ thống thông tin thị trường công nghệ biển. Nâng cao chất lượng xuất bản, truyền thông khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo biển. Phát triển các tổ chức trung gian của thị trường khoa học công nghệ biển.

Bên cạnh đó cần đẩy mạnh hợp tác trong nước và quốc tế về khoa học và công nghệ biển. Cần có cơ chế phối hợp Nhà nước - Nhà trường - Nhà doanh nghiệp. Hợp tác chiến lược với các tổ chức, viện, trường đại học, mạng lưới nghiên cứu quốc tế mạnh về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo biển. Thúc đẩy hợp tác vùng với các địa phương ven biển khu vực Đông Nam Á; Thu hút ngoại lực, ký kết thỏa thuận quốc tế…

Ngoài ra, Quyết định số 5262/QĐ-UBND ngày 26/12/2025 của Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng; Kế hoạch số 78/KH-SKHCN ngày 02/02/2026 của Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Hải Phòng về triển khai chương trình khoa học và công nghệ biển đến năm 2030 cũng nêu rõ các nhiệm vụ cụ thể. Trong đó nhấn mạnh tới việc nghiên cứu, ứng dụng, phát triển công nghệ trong các ngành, lĩnh vực biển. Các viện nghiên cứu, trường đại học, cao đẳng tham gia thực hiện các nhiệm vụ thuộc chương trình; Tiếp nhận và ứng dụng kết quả nghiên cứu các nhiệm vụ.

2aoboqwww7fcpzm2evprmrpqdguehenknjoluazm.jpg
Thạc sĩ Phạm Thị Sen Quỳnh – Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Hải Phòng.

Phát triển hệ sinh thái Hàng hải – Logistics - Công nghiệp đóng tàu trong kỷ nguyên số và chuyển đổi xanh

Cũng tại hội thảo, ông Nguyễn Tiến Đạt - Phó Tổng Giám đốc Tổng công ty Công nghiệp tàu thủy (SBIC) đã có bài tham luận với chủ đề "Phát triển hệ sinh thái Hàng hải - Logistics - Công nghiệp đóng tàu trong kỷ nguyên số và chuyển đổi xanh".

Theo ông Đạt, bối cảnh toàn cầu hiện nay đặt ra nhiều vấn đề đáng lưu ý như: 80% khối lượng thương mại toàn cầu vận chuyển bằng đường biển; Đại dịch Covid-19 khiến gián đoạn chuỗi cung ứng, vận tải biển đứt gãy, cước phí tăng đột biến; Xung đột địa chính trị tạo nên áp lực an ninh hàng hải. Biến đổi khí hậu làm thay đổi tuyến hàng hải, áp lực giảm phát thải, Net Zero 2050…

Điều này đặt ra vấn đề Logistics biển không còn là dịch vụ thương mại đơn thuần - đây là vấn đề an ninh kinh tế và năng lực chống chịu chiến lược của mỗi quốc gia.

Xu hướng chuyển đổi của ngành hàng hải và logistics toàn cầu cũng có nhiều thay đổi. Sau Covid-19 và biến động địa chính trị, chuỗi cung ứng toàn cầu đang tái cấu trúc sâu rộng. Các điểm nghẽn như Biển Đỏ, kênh Suez và Panama làm gia tăng thời gian vận chuyển và chi phí logistics.

Xu hướng China+1, nearshoring và regionalization đang thay đổi cấu trúc thương mại quốc tế. Cạnh tranh logistics chuyển từ cạnh tranh chi phí sang cạnh tranh về khả năng chống chịu và kết nối, đặt ra yêu cầu tái cấu trúc chuỗi cung ứng.

Trong bối cảnh IMO đặt mục tiêu Net Zero khoảng năm 2050 đối với vận tải biển quốc tế, tàu sử dụng LNG, methanol xanh, hydrogen và ammonia tăng nhanh, nhiều cảng biển triển khai mô hình Green Port và Green Corridor, công nghệ tiết kiệm năng lượng và tối ưu hóa khai thác trở thành xu hướng chủ đạo đặt ra yêu cầu chuyển đổi xanh hàng hải.

Bên cạnh đó, Smart Port, Smart Ship và Smart Shipyard phát triển mạnh trên toàn cầu. Al, IoT, Big Data và Blockchain được ứng dụng sâu trong logistics biển. Tàu biển đang trở thành nền tảng dữ liệu di động kết nối chuỗi cung ứng. Digital Twin và quản trị dữ liệu thời gian thực giúp tối ưu vận hành.

Ngoài ra còn có sự tác động của chuyển dịch cạnh tranh ngành đóng tàu sang công nghệ và đổi mới sáng tạo. Theo đó, Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản chiếm trên 90% sản lượng đóng tàu toàn cầu. Cạnh tranh chuyển từ lao động giá rẻ sang công nghệ và đổi mới sáng tạo. Smart Shipyard, robot hóa và thiết kế số trở thành năng lực cốt lõi. Ngành đóng tàu ngày càng gắn chặt với logistics xanh và công nghệ hàng hải.

2aoboqwww8zmen8g3vmucu5aadbqke6zcdzzqhyu.jpg
Ông Nguyễn Tiến Đạt - Phó Tổng Giám đốc Tổng công ty Công nghiệp tàu thủy (SBIC).

Theo ông Đạt, bối cảnh này đã tạo ra nhiều cơ hội chiến lược với Việt Nam. Việt Nam có bờ biển dài hơn 3.260 km và nằm trên các tuyến hàng hải quốc tế quan trọng của khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Quy mô xuất nhập khẩu tăng nhanh kéo theo nhu cầu lớn về cảng biển, logistics tích hợp và vận tải biển.

Xu hướng tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu mở ra cơ hội để Việt Nam tham gia sâu hơn vào mạng lưới logistics khu vực. Chiến lược phát triển kinh tế biển, năng lượng ngoài khơi và công nghiệp xanh sẽ tạo nhu cầu lớn đối với dịch vụ logistics biển và kỹ thuật hàng hải. Điện gió ngoài khơi có thể mở ra thị trường mới cho tàu dịch vụ công trình biển, tàu chuyên dụng và logistics năng lượng biển. Cạnh tranh logistics biển hiện đại đang chuyển mạnh sang cạnh tranh hệ sinh thái tích hợp.

Tuy nhiên, ông Đạt cũng chỉ ra còn một số điểm nghẽn cần khắc phục như: Chi phí logistics của Việt Nam vẫn ở mức cao so với nhiều quốc gia trong khu vực. Thị phần vận tải quốc tế phần lớn vẫn thuộc về các hãng tàu nước ngoài, làm giảm tính tự chủ logistics biển. Liên kết giữa cảng biển - logistics - vận tải biển – công nghiệp đóng tàu còn phân tán. Công nghệ đóng tàu xanh, tự động hóa và chuyển đổi số còn khoảng cách so với các quốc gia dẫn đầu. Công nghiệp hỗ trợ hàng hải chưa phát triển đồng bộ, tỷ lệ nội địa hóa trong nhiều phân khúc còn thấp.

Năm 2024 sản lượng hàng hóa qua cảng biển Việt Nam đạt khoảng 864,4 triệu tấn. Hàng container đạt khoảng 29,9 triệu TEU, tăng mạnh so với năm trước. Đến năm 2025, tổng hàng hóa qua cảng biển và cảng thủy nội địa ước đạt khoảng 1,17 tỷ tấn. Quy mô logistics tăng nhanh kéo theo nhu cầu lớn về đội tàu, sửa chữa tàu và công nghiệp hỗ trợ.

Đội tàu biển Việt Nam hiện có hơn 1.400 tàu với tổng trọng tải khoảng 9,4 triệu DWT. Tuổi tàu trung bình khoảng 17,3 năm; hơn một nửa đội tàu trên 15 tuổi. Năng lực vận tải quốc tế vẫn còn hạn chế ở nhiều phân khúc giá trị cao. Điều này đặt ra yêu cầu hiện đại hóa đội tàu và nâng cấp nền tảng công nghiệp kỹ thuật hàng hải.

Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam thời kỳ 2025-2035, tầm nhìn đến năm 2050 đặt mục tiêu đưa logistics trở thành ngành dịch vụ giá trị gia tăng cao, có tốc độ tăng trưởng bình quân 12-15%/năm, đóng góp 5-7% GDP.

Công nghiệp đóng tàu có thể tham gia giảm chi phí logistics theo ba cơ chế có tính cấu trúc: Trước hết, năng lực đóng mới và phát triển đội tàu phù hợp giúp tăng mức độ chủ động về vận tải. Thứ hai, năng lực sửa chữa và bảo trì trong nước giúp giảm thời gian dừng tàu và chi phí kỹ thuật. Thứ ba, công nghiệp đóng tàu góp phần tối ưu cơ cấu vận tải nội địa.

2aoboqwww6re2g7fvfuacjpmw9phcmfrxyy6rsow.jpg
Quang cảnh buổi hội thảo.

Theo Phó Tổng Giám đốc Tổng công ty Công nghiệp tàu thủy (SBIC), công nghiệp đóng tàu không thể phát triển bền vững nếu tách rời khỏi hệ sinh thái hàng hải. Một nhà máy đóng tàu cần đồng thời có: thị trường vận tải biển; đội tàu khai thác; hệ thống cảng biển; logistics và công nghiệp hỗ trợ; đăng kiểm, tài chính và nguồn nhân lực kỹ thuật.

Việt Nam cần tập trung vào các phân khúc gắn với nhu cầu logistics thực tế: tàu feeder và tàu ven biển; tàu sông - biển; tàu dầu/hóa chất cỡ phù hợp; tàu dịch vụ offshore và điện gió ngoài khơi; sửa chữa và cải hoán tàu xanh.

Từ đó, ông Đạt đề xuất 5 nhóm giải pháp ưu tiên cho phát triển hệ sinh thái hàng hải Việt Nam.

Thứ nhất, phát triển hệ sinh thái tích hợp. Gắn logistics biển với đội tàu quốc gia, công nghiệp đóng tàu, công nghiệp hỗ trợ và hạ tầng số - thoát khỏi mô hình phát triển phân ngành.

Thứ hai, thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện. Hình thành hệ thống dữ liệu logistics biển tích hợp, Smart Port, Smart Ship, nền tảng quản trị chuỗi cung ứng số - dữ liệu là tài sản chiến lược.

Thứ ba, chuyển đổi xanh là bắt buộc, đáp ứng tiêu chuẩn IMO, phát triển tàu xanh, green port, green corridor - tham gia Net Zero 2050 không phải lựa chọn mà là điều kiện cạnh tranh.

Thứ tư, tái cơ cấu công nghiệp đóng tàu. Từ gia công chuyển sang công nghệ cao; tăng tự động hóa, thiết kế số, Al; gần với logistics biển và kinh tế biển xanh; thúc đẩy phân khúc offshore & wind.

Thứ năm, phát triển nhân lực chất lượng cao. Liên kết doanh nghiệp - đại học - viện nghiên cứu; đào tạo kỹ sư công nghệ số, chuyên gia năng lượng xanh, nhân lực quản trị logistics hiện đại.

Ngay sau phiên toàn thể, hội thảo tiếp tục diễn ra tại 5 tiểu ban chuyên môn, tập trung thảo luận sâu vào các lĩnh vực cốt lõi bao gồm: Kỹ thuật Công nghệ Hàng hải; Công nghệ số, tự động hóa và ứng dụng hàng hải; Kinh tế biển, logistics và chuỗi cung ứng; và An toàn, môi trường và phát triển hàng hải bền vững. Các chủ đề này bám sát định hướng về tối ưu hóa cảng biển thông minh, logistics xanh, chuyển đổi số và công nghệ đóng tàu tiên tiến.

Một số hình ảnh khác tại buổi hội thảo:

2aoboqwww78w3z0fwxkjbfrrs4wgzqzcqrao6kyy.jpg
2aoboqwww84jhpyenonhca6vd9xvzopa0siwu0rg.jpg
LÃ TIẾN