Đừng để chương trình đào tạo tiến sĩ thành “bòn nơi khố rách đãi nơi quần hồng"

21/05/2021 06:59
Thùy Linh
GDVN- Theo Giáo sư Trần Đức Viên, tránh việc cử đi đào tạo tiến sĩ như làm phong trào nào đó, hạn chế tối đa việc đổ tiền thuế của dân xuống sông xuống biển.

Rút kinh nghiệm từ Đề án 322 và Đề án 911 trước đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo đang làm dự thảo thông tư hướng dẫn triển khai đào tạo trình độ tiến sĩ, thạc sĩ bằng nguồn ngân sách nhà nước năm 2021 và 2022 theo Quyết định số 89/QĐ-TTg ngày 18/1/2019 của Thủ tướng Chính phủ (gọi tắt Đề án 89), với nhiều điểm thay đổi đáng kể, trên tinh thần phát huy tính tự chủ của các cơ sở đào tạo đại học.

Dự thảo cho phép các trường căn cứ vào các tiêu chí về chuyên môn và hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo và các bộ liên quan sẽ tự chủ trong tuyển sinh và tổ chức đào tạo (với 3% đào tạo trong nước) trên nguyên tắc chia sẻ kinh phí giữa Nhà nước và cơ sở đào tạo cử giảng viên tham gia Đề án 89, đồng thời nâng cao trách nhiệm của các ứng viên thụ hưởng đề án.

Các trường sẽ tuyển chọn giảng viên để đưa đi đào tạo, quản lý kinh phí, theo dõi quá trình đào tạo cho tới việc sử dụng sau đào tạo và bồi hoàn kinh phí đào tạo (nếu có). Bộ Giáo dục và Đào tạo giữ vai trò hướng dẫn, kiểm tra, giám sát các trường trong quá trình thực hiện.

Đề án 911 trước đây chủ trương gửi công dân Việt Nam đi đào tạo ở nước ngoài. Đề án 322 đào tạo nguồn giảng viên cho các trường đại học được làm luận án thạc sĩ và tiến sĩ ở nước ngoài, đáp ứng cho nhu cầu đào tạo nguồn 20.000 tiến sĩ làm giảng viên cho các trường đại học.

Khác với tất cả các đề án trước, Đề án 89 cho phép được hỗ trợ nghiên cứu sinh hoặc đào tạo toàn thời gian ở nước ngoài, hoặc liên kết với nước ngoài theo mô hình có thời gian trong nước, thời gian ở nước ngoài; hoặc cũng có thể đào tạo toàn thời gian trong nước và đối tượng là các giảng viên hoặc tạo nguồn giảng viên đại học.

Mục tiêu của Đề án 89, trong 10 năm tới cần đào tạo được khoảng 7.300 giảng viên có trình độ tiến sĩ và trên 300 giảng viên thuộc khối văn hóa, nghệ thuật và thể dục, thể thao có trình độ thạc sĩ.

Nghiên cứu dự thảo này, chia sẻ với phóng viên Tạp chí Giáo dục Việt Nam, Giáo sư Trần Đức Viên- Học viện Nông nghiệp Việt Nam khẳng định, việc cử người đi đào tạo để tăng cường tiềm lực khoa học công nghệ quốc gia là cần thiết. Tuy nhiên, câu chuyện đặt ra là đào tạo thế nào thì có 2 vấn đề cần được làm rõ.

Trước tiên, cần tổng kết lại Đề án 322 và Đề án 911 xem bài học kinh nghiệm rút ra là gì sau 2 đề án đó, cái gì được, cái gì chưa được, nhất là các điểm hạn chế về thể chế (chính sách nhà nước và tổ chức thực hiện). Từ đó đối chiếu với mục đích tiềm lực khoa học công nghệ quốc gia đến năm 2030, năm 2045 đến đâu trên “bản đồ” khoa học thế giới, kiểm kê các nguồn lực khoa học công nghệ trong nước, từ đó xác định đào tạo cái gì, ở đâu, với ai, như thế nào?

Cụ thể là cần xác định rõ cần đào tạo bao nhiêu người, những ngành gì, đào tạo ở đâu, đối với đối tượng nào; tránh việc cứ cử đi đào tạo tiến sĩ như làm phong trào nào đó, hạn chế tối đa việc đổ tiền thuế của dân xuống sông xuống biển, nhất là trong một xã hội còn sính bằng cấp như chúng ta.

Cũng đừng để chương trình đào tạo tiến sĩ trở thành “bòn nơi khố rách đãi nơi quần hồng”; Tức là lấy ngân sách nhà nước, trong đó có tiền thuế của người nghèo, đào tạo xong thì họ “nhảy” sang Tây, làm cho nước ngoài, không “trả nợ” những người đã góp công góp của góp xương máu nuôi họ ăn học. “Tại sao người nông dân Việt Nam nghèo khó lại phải đóng góp tiền để đào tạo nhân tài cho nước ngoài”, thầy Viên nhấn mạnh.

Giáo sư Trần Đức Viên – Học viện Nông nghiệp Việt Nam (ảnh: Thùy Linh)

Giáo sư Trần Đức Viên – Học viện Nông nghiệp Việt Nam (ảnh: Thùy Linh)

Hơn nữa, theo Giáo sư Trần Đức Viên, chính thực tế sử dụng, đãi ngộ cán bộ khoa học công nghệ của Việt Nam hiện tại sẽ là cơ sở thực tiễn để người đi du học, được cử đi đào tạo có quyết định trở về nước hay không. Điều kiện làm việc, chế độ lương bổng, cơ hội thăng tiến, thái độ trọng thị của xã hội đối với đội ngũ các nhà khoa học, đội ngũ trí thức của chúng ta hiện nay là tấm gương để người đi du học soi vào và tự rút ra bài học cho chính họ và gia đình họ.

Muốn như vậy thì cần thay đổi càng sớm càng tốt việc sử dụng và trọng dụng nhà khoa học Việt Nam đang làm việc tại các viện nghiên cứu, các trường đại học tương xứng với đóng góp và cống hiến của họ để mọi người muốn về, thích về chứ không phải mang hình thức xử phạt, đền bù để ép buộc, đe nẹt - đó chỉ là biện pháp hành chính mang tính “ngọn”, khiên cưỡng và hiệu quả thấp.

Nhìn từ Trung Quốc cho thấy, những năm 70, 80 của thế kỷ trước, đa số các du học sinh, nghiên cứu sinh của họ đi học nước ngoài đều ở lại, nhưng đến những năm 2000 đặc biệt là từ 2003, hàng ngàn trí thức Hoa kiều lại ào ạt về nước, vì người ta xây dựng được môi trường làm việc chuyên nghiệp, ở đó những nhà khoa học được Nhà nước trọng dụng thật sự, ở đó chỉ có năng suất khoa học quyết định sự thăng tiến chứ không còn tiêu chuẩn nào khác, tất cả đều lấy năng suất khoa học làm thước đo.

Những Thường Nga, Thần Châu, Liêu Ninh, những Type-15, J-20, J-11, HQ-9, những bước nhảy từ công xưởng sản xuất hàng giá rẻ thành siêu cường kinh tế, siêu cường quân sự, siêu cường khoa học công nghệ của Trung Quốc trong hai thập niên qua có sự đóng góp không nhỏ của đội ngũ các nhà khoa học Hoa kiều hồi hương này.

Hay như Phòng thí nghiệm Sinh học Phân tử Cambridge (MRC Laboratory of Molecular Biology) nơi tối giản các quản lý kiểu hành chính, ở đó chỉ có các nhóm nghiên cứu mạnh, ở đó các nhà khoa học có quyền lợi, trách nhiệm ngang nhau, không hề có viện trưởng, viện phó mà chỉ có người phát ngôn của các nhà khoa học, năng suất khoa học là thứ duy nhất để đo danh phận con người. Tính đến nay Viện này đã sở hữu 11 giải Nobel, nếu tính cả những người có “gốc” ở đây nhưng sau đó đã chuyển đi nơi khác thì phòng thí nghiệm nhỏ bé này đã cung cấp cho nhân loại 25 người đạt giải Nobel!

Nói như vậy để thấy môi trường học thuật chuyên nghiệp, thoải mái, hưởng lương theo năng suất lao động, đảm bảo các nhà khoa học có cuộc sống vật chất trung lưu khá trở lên, thì tự khắc xã hội đó thu hút được nhân tài. Chừng nào nhà khoa học còn mắt nhắm mắt mở với những cơm áo gạo tiền thì làm sao họ có thể dốc hết tâm huyết cho khoa học được.

Cuối cùng, thầy Viên cho rằng, cần phải áp dụng chính sách đào thải tức là nếu sau một khoảng thời gian nào đó, như sau 3-5 năm chẳng hạn, mà không có kết quả nghiên cứu khoa học nào được “trình làng” theo các chuẩn mực quốc tế, là bị đào thảo chứ không phải nhà khoa học nào đã “thi” được vào biên chế là yên tâm ở đó hưởng lương, dù là lương “sống mòn” đến suốt đời.

Đề án 89 là nâng cao năng lực cho đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý, hướng tới các mục tiêu: đào tạo trình độ tiến sĩ cho 10% giảng viên đại học (trong đó 7% là đào tạo ở nước ngoài, 3% đào tạo trong nước); đào tạo để trên 80% giảng viên thuộc khối văn hóa, nghệ thuật và thể dục, thể thao có trình độ thạc sĩ trở lên; bồi dưỡng kỹ năng quản trị đại học cho giảng viên là cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục đại học và bồi dưỡng một số kỹ năng như: phát triển chương trình đào tạo, ngoại ngữ, tin học, phương pháp giảng dạy… cho 100% giảng viên; có chính sách thu hút 1.500 nhà khoa học, những người có trình độ tiến sĩ về làm việc tại các cơ sở giáo dục đại học của Việt Nam.

Thùy Linh