Điều 3 Dự thảo Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục đại học sửa đổi nêu, nguyên tắc chung khi đặt tên cơ sở giáo dục đại học không được sử dụng các từ, cụm từ mang tính “quốc gia” hoặc thể hiện vị thế đặc biệt (“quốc tế”, “quốc gia”, “Việt Nam”, “Hồ Chí Minh”, “International”, “National”, “State”) trừ khi được cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định.
Theo đó, Dự thảo Nghị định đã bổ sung các nguyên tắc chặt chẽ hơn trong việc đặt tên cơ sở giáo dục đại học, đặc biệt là quy định không gây nhầm lẫn về loại hình, tính chất sở hữu, phạm vi hoạt động, cơ quan quản lý, chất lượng hoặc vị thế của cơ sở giáo dục đại học, không sử dụng từ ngữ thể hiện danh hiệu, thứ hạng. Nhằm bảo đảm tên gọi phản ánh đúng bản chất của trường đại học, hạn chế nguy cơ gây nhầm lẫn cho xã hội và người học, việc "siết" tên gọi này nhận được sự đồng thuận từ nhiều chuyên gia giáo dục và cơ sở đào tạo.
Cần lộ trình phù hợp để việc siết cách đặt tên không gây xáo trộn môi trường học thuật
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Tiến sĩ Hoàng Ngọc Vinh – nguyên Vụ trưởng Vụ Giáo dục chuyên nghiệp (Bộ Giáo dục và Đào tạo) bày tỏ ủng hộ dự thảo Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục đại học (sửa đổi) bổ sung, rà soát và thiết lập hệ thống nguyên tắc chặt chẽ hơn đối với việc đặt tên cơ sở giáo dục đại học. Bối cảnh cạnh tranh giữa các cơ sở giáo dục đại học ngày càng gay gắt như hiện nay còn tồn tại một số cơ sở đào tạo sử dụng tên gọi như một công cụ “marketing” dù phản ánh không đúng bản chất, năng lực và chất lượng thực tế.
Nói cách khác, những cụm từ thể hiện tầm vóc, vị thế trong tên gọi có ảnh hưởng không nhỏ tới quyết định lựa chọn trường của thí sinh và phụ huynh, do đó cần cụ thể hóa quy định đặt, đổi tên cơ sở giáo dục đại học, phân hiệu của cơ sở giáo dục một cách nghiêm túc, minh bạch và có tiêu chí rõ ràng. Bởi lẽ, trên thực tiễn, nhiều phụ huynh và thí sinh không có đủ thông tin để xem xét, đánh giá các yếu tố cốt lõi như chuẩn đầu ra, kiểm định đảm bảo chất lượng, đội ngũ giảng viên hay năng lực nghiên cứu, mà bị tác động bởi những tên gọi gắn với các từ ngữ thể hiện vị thế đặc biệt như “quốc gia”, “quốc tế”, “international”.
Do đó, tên gọi của một cơ sở giáo dục đại học mang hàm ý về vị thế, phạm vi hoặc chất lượng đặc biệt thì phải tương xứng với chất lượng thực tế, và năng lực đó phải được chứng minh bằng những tiêu chí khách quan theo kiểm định chất lượng đào tạo, chuẩn đầu ra, năng lực nghiên cứu khoa học, quy mô và trình độ đào tạo,... Nếu không chứng minh được năng lực tương xứng với tên gọi thì cơ sở giáo dục buộc phải thay đổi tên đó, đồng thời Tiến sĩ Hoàng Ngọc Vinh đề xuất cần có lộ trình rõ ràng, đủ thời gian phù hợp để cán bộ, giảng viên, người học thích ứng, tránh gây ra xáo trộn và tâm lý “sốc” trong môi trường học thuật.
Ở nhiều quốc gia trên thế giới, việc sử dụng các từ ngữ trong tên gọi thể hiện tầm cỡ đặc biệt phải được cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định, trên cơ sở các tiêu chuẩn nghiêm ngặt. Khi đã là quy định chung của pháp luật thì không nên có ngoại lệ, tránh phát sinh cơ chế “xin - cho”. Vì vậy, các tiêu chí đặt tên cần được xây dựng công khai, minh bạch, làm căn cứ rõ ràng để cơ quan quản lý nhà nước xem xét, quyết định. “Tự chủ đại học không có nghĩa là các cơ sở giáo dục đại học muốn gọi tên gì thì gọi. Phải quy định rõ trách nhiệm của nhà trường và thẩm quyền của cơ quan quản lý nhà nước”, Tiến sĩ Hoàng Ngọc Vinh nhấn mạnh.
Bên cạnh đó, Dự thảo Nghị định yêu cầu đặt tên cơ sở giáo dục đại học bắt buộc phải có tên tiếng Việt trừ trường hợp cơ sở giáo dục thành lập theo Hiệp định giữa Chính phủ Việt Nam với chính phủ nước ngoài. Tên tiếng Việt gồm: cụm từ xác định loại hình cơ sở giáo dục đại học (đại học, trường đại học, học viện); cụm từ xác định lĩnh vực, ngành nghề đào tạo (nếu cần); tên riêng, có thể là địa danh trong nước hoặc tên danh nhân văn hóa, lịch sử.
Danh nhân là người nổi tiếng, kiệt xuất, có cống hiến nổi bật, có nhân cách, tài năng và ảnh hưởng lớn đến cộng đồng, được xã hội ghi nhận và đánh giá cao. Những nhân vật này có đóng góp xuất sắc không chỉ cho sự phát triển văn hóa của dân tộc mà còn cho sự phát triển văn hóa chung của nhân loại, là đại diện, biểu trưng cho một nền văn hóa thế giới đa bản sắc, vừa thấm đẫm văn hóa dân tộc, vừa thắm đượm tinh hoa văn hóa nhân loại.
Về nội dung này, Tiến sĩ Hoàng Ngọc Vinh đặc biệt lưu ý tới trách nhiệm văn hóa trong việc đặt tên cơ sở giáo dục, nhất là khi sử dụng tên các danh nhân, vĩ nhân văn hóa - lịch sử. Việc lấy tên danh nhân để đặt cho một cơ sở giáo dục đại học cần hết sức thận trọng, bởi nếu hoạt động không tương xứng, thậm chí xảy ra tai tiếng, có thể sẽ gây tổn hại đến uy tín và giá trị biểu tượng của danh nhân đó; vì vậy việc sử dụng tên gọi cần xem xét thấu đáo và có hành lang pháp lý bảo vệ rõ ràng.
Việc Dự thảo Nghị định lần này siết chặt quy định về đặt tên không chỉ nhằm chấn chỉnh những bất cập hiện nay, mà còn góp phần xây dựng môi trường giáo dục đại học lành mạnh, minh bạch, bảo vệ quyền lợi chính đáng của người học và nâng cao uy tín của hệ thống giáo dục đại học Việt Nam trong dài hạn. Chất lượng cốt lõi bên trong mới là yếu tố quyết định, bởi “chiếc áo không làm nên thầy tu”. Tên gọi chỉ có giá trị khi phản ánh trung thực năng lực thực chất của cơ sở giáo dục đại học.
Tương xứng giữa tên gọi và chất lượng đào tạo bảo đảm danh chính ngôn thuận
Trong bối cảnh giáo dục đại học đang phát triển nhanh chóng, với sự tham gia đa dạng về hình thức sở hữu và mô hình hoạt động, quy định này có thể góp phần bảo vệ quyền lợi người học bằng cách đảm bảo tên trường phản ánh đúng bản chất pháp lý và thực tiễn đào tạo. Nhìn nhận Dự thảo Nghị định quy định về tên gọi các cơ sở giáo dục đại học trong tổng thể quá trình hoàn thiện hành lang pháp lý cho giáo dục đại học, Thạc sĩ Phạm Thái Sơn - Giám đốc Trung tâm Tuyển sinh và Truyền thông, Trường Đại học Công thương Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, định hướng của Bộ Giáo dục và Đào tạo là phù hợp với yêu cầu thực tiễn.
Tên gọi và hình ảnh thương hiệu của cơ sở đào tạo có sức tác động lớn tới quyết định lựa chọn của thí sinh và phụ huynh. Vì vậy, việc đặt ra các nguyên tắc chặt chẽ hơn nhằm bảo đảm tính minh bạch, hạn chế nguy cơ gây hiểu lầm cho người học là bước đi hợp lý. Tác động tích cực của đề xuất này có thể mang lại trong việc chấn chỉnh tình trạng một số trường đại học sử dụng tên gọi hoành tráng, hấp dẫn nhưng không tương xứng với năng lực đào tạo thực tế hoặc quyền cấp bằng. Việc thiết lập những hàng rào kỹ thuật đối với tên gọi có thể góp phần hạn chế tình trạng trường ảo, giảm thiểu rủi ro người học lựa chọn khi thiếu thông tin đầy đủ.
Song, trong nhiều trường hợp, tên gọi của trường không chỉ mang vấn đề pháp lý đơn thuần, mà còn gắn liền với quá trình hình thành, định hướng phát triển và bản sắc thương hiệu đã được xây dựng, vun đắp qua thời gian dài. Do đó, nếu quy định quá cứng nhắc thì có thể giảm sự sáng tạo trong việc xây dựng và phát triển thương hiệu giáo dục, mất đi dấu ấn riêng của nhà trường. Tên gọi chỉ là một trong nhiều yếu tố cấu thành niềm tin của xã hội đối với cơ sở đào tạo; giá trị cốt lõi và bền vững vẫn nằm ở chất lượng đào tạo, đội ngũ giảng viên, chương trình học và đầu ra của người học.
Việc điều chỉnh tên gọi theo quy định đối với cả những cơ sở giáo dục đại học đã hình thành từ lâu và có lịch sử phát triển thương hiệu ổn định cần được cân nhắc kỹ lưỡng, tránh tạo ra sự nhầm lẫn, thiếu hợp lý và xáo trộn không cần thiết. Bên cạnh việc hoàn thiện quy định về tên gọi, cần ưu tiên hơn nữa cho công tác kiểm định chất lượng giáo dục. Việc xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá rõ ràng, minh bạch, được triển khai nghiêm túc và giám sát chặt chẽ là giải pháp căn cơ để bảo vệ quyền lợi người học và nâng cao uy tín của hệ thống giáo dục đại học một cách thực chất và lâu dài.
Cùng chia sẻ về vấn đề này, theo một giảng viên Trường Đại học Kiến trúc Đà Nẵng, đề xuất quy định cách đặt tên cơ sở giáo dục là một bước đi hợp lý nhằm tăng cường tính minh bạch, tránh tình trạng sử dụng như một công cụ quảng bá, thổi phồng trong bối cảnh cạnh tranh để thu hút người học. Về bản chất, tên gọi của một tổ chức không đơn thuần là ký hiệu hành chính, mà là yếu tố cốt lõi trong nhận diện thương hiệu, hơn nữa là sự cam kết về giá trị và trách nhiệm đối với xã hội, đồng thời mang trong mình triết lý, sứ mệnh giáo dục.
Vì vậy, tên gọi chỉ thực sự phát huy ý nghĩa khi phản ánh đúng bản chất, vị thế và năng lực của cơ sở đào tạo, bởi vì có “chính danh” thì “ngôn mới thuận” để phát triển bền vững. Thực tiễn trên thế giới, tại một số quốc gia châu Á, cơ quan quản lý áp dụng các quy định khá chặt chẽ nhằm ngăn ngừa tình trạng những cơ sở quy mô nhỏ hoặc năng lực hạn chế nhưng lại sử dụng tên gọi mang hàm ý đại diện cho cả quốc gia hay có vị thế vượt xa thực lực. Cách tiếp cận này nhằm tránh gây hiểu lầm cho xã hội, đồng thời bảo vệ tính nghiêm cẩn của hệ thống giáo dục đại học.
Trong khi đó, ở nhiều quốc gia phương Tây, dù không ban hành các quy định mang tính “cấm đoán” trực tiếp, việc quản lý tên gọi lại được thực hiện thông qua cơ chế bảo hộ thương hiệu, quyền cấp bằng và các chuẩn mực kiểm định nghiêm ngặt. Dù tiếp cận theo cách nào, điểm chung dễ nhận thấy là chất lượng của cơ sở giáo dục không thể được xây dựng bền vững chỉ dựa trên một tên gọi không tương xứng với giá trị thực, bởi sự lệch pha này có thể dẫn tới tình trạng “hữu danh vô thực”.
Từ những kinh nghiệm đó, có thể cân nhắc một cơ chế dung hòa trong quá trình xây dựng chính sách. Theo đó, cơ quan quản lý cần có tiêu chí minh bạch để xem xét, chấp thuận hoặc từ chối tên gọi trên tinh thần đặt lợi ích chung, sự ổn định và phát triển bền vững của xã hội lên hàng đầu. Ngoài ra, quy định về đặt, đổi tên gọi các cơ sở giáo dục nên được xây dựng lộ trình phù hợp trong bối cảnh hội nhập, góp phần hài hòa giữa yêu cầu chuẩn hóa với tạo điều kiện thuận lợi cho khả năng cạnh tranh quốc tế.