Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 2776/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao người dân tộc thiểu số trong một số ngành, lĩnh vực trọng điểm giai đoạn 2026–2035, định hướng đến năm 2045”.
Trong đó, mục tiêu cụ thể giai đoạn 2026-2035 là: Số lượng tuyển mới theo đối tượng của đề án tăng hằng năm từ 2000 đến 2500 sinh viên đối với trình độ cao đẳng, đại học. Phấn đấu thu hút được 1000 đến 1500 sinh viên có năng lực tốt để đào tạo, hình thành lực lượng lao động, cán bộ nòng cốt phục vụ phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi với tỷ lệ từ 07% - 10% theo học các ngành sức khỏe, từ 05% - 10% theo học ngành nông, lâm nghiệp; từ 5 - 10% theo học ngành du lịch, phần còn lại theo học các ngành, lĩnh vực khác.
Theo lãnh đạo một số trường đại học đào tạo người dân tộc thiểu số, đề án góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực người dân tộc thiểu số, đặc biệt ở một số ngành, lĩnh vực trọng điểm, phù hợp với thực tế tại các địa phương vùng cao hiện nay.
Cú hích để đào tạo người dân tộc thiểu số thành nhân lực chất lượng cao
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Vũ Việt Hùng - Trưởng phòng, Phòng đào tạo Trường Đại học Tây Bắc cho rằng, đề án là bước chuyển dịch chiến lược cấp thiết từ mở rộng quy mô sang nâng cao chất lượng trong giáo dục dân tộc thiểu số.
Trước hết, đối với giáo dục đại học, đây là cuộc đổi mới tư duy mạnh mẽ khi chuyển từ mục tiêu phổ cập, hỗ trợ diện rộng sang đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đột phá và có năng lực cạnh tranh quốc tế.
Với mục tiêu mỗi năm đào tạo 2.000 - 2.500 sinh viên là người dân tộc thiểu số, đề án sẽ tạo ra lực lượng tiên phong để thúc đẩy kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số phát triển bền vững thay vì trông chờ vào hỗ trợ bên ngoài.
Trường Đại học Tây Bắc hiện có 76% sinh viên là người dân tộc thiểu số, việc thực hiện đề án là thời cơ vàng để nhà trường khẳng định vị thế là trường đại học trọng điểm của khu vực. Bởi về nguồn lực, đây là cơ hội để trường đầu tư cơ sở vật chất và phát triển các ngành mũi nhọn.
Hơn nữa, về chất lượng, đề án sẽ góp phần giải quyết cả bài toán thu hút nhân tài lẫn đảm bảo việc làm, tạo động lực lớn cho người học của nhà trường.
Theo thầy Hùng, việc thu hút 1.000 - 1.500 sinh viên nòng cốt/năm là một mục tiêu đầy kỳ vọng, nhưng hoàn toàn khả thi nếu có cách tiếp cận đột phá. Để đạt được mục tiêu này, các cơ sở đào tạo không thể thụ động chờ sinh viên đến, mà cần chủ động kiến tạo một hệ sinh thái đào tạo toàn diện.
Cụ thể, các cơ sở giáo dục đại học cần tập trung vào các nhóm giải pháp và điều kiện tiên quyết sau.
Thứ nhất, cần kết nối sớm với hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú, xây dựng cơ chế tuyển sinh đặc thù, đặt hàng hoặc tuyển thẳng đối với những học sinh xuất sắc tại các trường trung học phổ thông chuyên, trường phổ thông dân tộc nội trú của các tỉnh thành.
Cùng với đó, phối hợp với địa phương để xác định về nhu cầu nguồn nhân lực ngành, từ đó, đảm bảo đầu vào gắn liền với nhu cầu thực tế.
Thứ hai, thiết kế chương trình đào tạo riêng cho nhóm cán bộ nòng cốt, trong đó, chương trình cần tích hợp năng lực lãnh đạo và quản lý. Ngoài kiến thức chuyên môn, chương trình nên bổ sung các học phần về kỹ năng lãnh đạo, quản lý nhà nước và am hiểu văn hóa - xã hội địa phương.
Đồng thời, đối với chuyển đổi số và ngoại ngữ, cần trang bị năng lực số và ngoại ngữ vượt trội để sinh viên dân tộc thiểu số không chỉ làm việc được ở bản làng, mà còn có tư duy hội nhập, tiếp cận tri thức mới để mang về áp dụng cho quê hương.
Thứ ba, ưu tiên giảng viên am hiểu văn hóa dân tộc, xây dựng đội ngũ giảng viên, cố vấn học tập không chỉ giỏi chuyên môn mà còn thấu hiểu tâm lý, văn hóa của sinh viên dân tộc thiểu số.
Song song với đó, mời các chuyên gia thực tiễn, trong đó có lãnh đạo địa phương, chuyên gia đang công tác thực tế về tham gia giảng dạy các chuyên đề đặc thù, giúp sinh viên hình dung rõ nét về công việc tương lai.
Cùng bàn về vấn đề này, Tiến sĩ Trần Hữu Duy - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Đà Lạt bày tỏ, với các chính sách ưu tiên đầu tư hiện đại hóa cơ sở vật chất từ cấp trung học phổ thông đến đại học hay chính sách đặc thù trong tuyển sinh, đề án sẽ góp phần tăng cường thu hút người dân tộc thiểu số theo học các trình độ, đặc biệt ở những lĩnh vực trọng điểm để góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Đối với Trường Đại học Đà Lạt, nơi có trên 15% sinh viên là người dân tộc thiểu số (khoảng 2.000 sinh viên trên tổng quy mô đào tạo hệ chính quy), đề án sẽ góp phần giúp nhà trường có thêm điều kiện để hiện đại hóa cơ sở vật chất, giảng đường, phòng thí nghiệm, ký túc xá phục vụ tốt hơn cho công tác đào tạo nói chung và công tác đào tạo người dân tộc thiểu số nói riêng.
Theo thầy Duy, để phấn đấu tuyển mới hằng năm từ 2.000 đến 2.500 sinh viên trình độ cao đẳng, đại học là người dân tộc thiểu số; trong đó thu hút từ 1.000 đến 1.500 sinh viên có tiềm năng để đào tạo, hình thành lực lượng lao động, cán bộ nòng cốt phục vụ phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, các cơ sở giáo dục đại học cần thực hiện một số giải pháp sau.
Trước hết, tập trung huy động nguồn lực từ ngân sách nhà nước cũng như các nguồn lực khác để hiện đại hóa cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ dạy học. Đặc biệt, cần ưu tiên đầu tư xây dựng, cải tạo các khu ký túc xá để ưu tiên bố trí chỗ ở miễn phí cho sinh viên, học viên người dân tộc thiểu số.
Song song với đó, nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý phục vụ, tổ chức xây dựng giáo trình, tài liệu học tập phù hợp với đặc điểm của sinh viên, học viên người dân tộc thiểu số.
Hơn nữa, tăng cường kết nối với các địa phương, đặc biệt là các địa phương trong khu vực để rà soát, đánh giá tổng thể hiện trạng nguồn nhân lực người dân tộc thiểu số, nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng để tiến hành đặt hàng, giao nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng.
Ngoài ra, nên tăng cường công tác truyền thông thông qua các chương trình hỗ trợ, hợp tác thực hiện các đề tài, dự án, các mô hình phát triển kinh tế - xã hội tại những địa bàn người dân tộc thiểu số sinh sống. Từ đó, làm minh chứng thực tiễn cho đồng bào nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc học tập, nâng cao trình độ, thông qua đó góp phần thay đổi tư duy, nhận thức, văn hóa, tập tục còn lạc hậu, tạo động lực thúc đẩy học sinh, sinh viên đi học tập nâng cao trình độ.
Còn theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quang - Hiệu trưởng Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Thái Nguyên, đề án vừa là cơ hội vừa là sự khẳng định sứ mạng của nhà trường. Với đặc thù đào tạo các ngành nông, lâm nghiệp, quản lý tài nguyên và phát triển nông thôn – những lĩnh vực "xương sống" của vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đề án giúp nhà trường có thêm cơ chế và nguồn lực để không chỉ đào tạo nghề, mà còn đào tạo ra những nhân tài, những chuyên gia kỹ thuật người bản địa có khả năng thay đổi kinh tế quê hương.
Cũng theo thầy Quang, việc tuyển sinh và đào tạo 2.000 - 2.500 sinh viên đối với trình độ cao đẳng, đại học hằng năm, trong đó thu hút từ 1.000 đến 1.500 sinh viên có năng lực tốt để đào tạo, hình thành lực lượng lao động, cán bộ nòng cốt phục vụ phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi là một thách thức không nhỏ, nhưng hoàn toàn khả thi nếu có cách tiếp cận đúng.
Để biến số lượng sinh viên này thành nhân lực chất lượng cao thực sự, các cơ sở đào tạo cần thiết kế chương trình theo hướng "may đo" cho đặc thù vùng miền. Không dạy lý thuyết suông, mà phải gắn liền với sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số thông qua các lĩnh vực như: Nông nghiệp công nghệ cao, Lâm nghiệp bền vững, Dược liệu, Du lịch sinh thái,...
Đồng thời, cần có cơ chế phối hợp Nhà nước - Nhà trường - Địa phương. Bởi đây là giải pháp then chốt để đảm bảo đầu ra và tính hiệu quả của đề án. Trong đó, các địa phương và Chính phủ cần thực hiện cơ chế giao nhiệm vụ, đặt hàng đào tạo cụ thể theo địa chỉ sử dụng, cơ sở giáo dục tuyển sinh gắn liền với quy hoạch cán bộ của từng địa phương.
Ngoài ra, cần có định mức kinh phí đào tạo riêng cho đối tượng của đề án, cao hơn mức đào tạo đại trà, để nhà trường có đủ nguồn lực tổ chức các hoạt động ngoại khóa, bổ trợ kỹ năng và mời chuyên gia thực tiễn tham gia giảng dạy.
Cần có chính sách đặc thù hỗ trợ người dân tộc thiểu số học trình độ sau đại học
Đáng chú ý, mục tiêu của đề án trong giai đoạn 2026-2035 cũng nhấn mạnh việc tăng quy mô đào tạo người học trình độ thạc sĩ và tiến sĩ là người dân tộc thiểu số thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, phấn đấu mức tăng quy mô tuyển sinh tối thiểu đạt 10%/năm.
Liên quan đến nội dung này, theo thầy Nguyễn Hưng Quang, phần lớn cử nhân người dân tộc thiểu số sau khi tốt nghiệp chịu áp lực phải đi làm ngay để phụ giúp gia đình. Trong khi đó, việc tiếp tục học lên bậc học cao lại có chi phí lớn. Ngoài ra, tại nhiều địa phương vùng sâu vùng xa, chính sách đãi ngộ hoặc lộ trình thăng tiến cho người có bằng cấp cao chưa thực sự rõ ràng, khiến người học chưa mặn mà phấn đấu.
Do đó, để đạt được mục tiêu này, ngoài chính sách miễn học phí, Nhà nước cần có thêm chính sách hỗ trợ học bổng, cấp sinh hoạt phí cho học viên cao học và nghiên cứu sinh để họ yên tâm học tập và nghiên cứu.
Hơn nữa, việc đào tạo cần gắn chặt với các vấn đề của địa phương. Luận văn, luận án phải là các công trình liên quan, giải quyết trực tiếp những vấn đề nóng của địa phương như: giống cây trồng, quy hoạch đất đai, bảo tồn văn hóa,...
Cùng chung quan điểm, thầy Vũ Việt Hùng cho rằng, mục tiêu tăng quy mô tuyển sinh 10%/năm ở bậc sau đại học cho người dân tộc thiểu số là thách thức đối với các cơ sở giáo dục đại học. Trên thực tế cho thấy, có 2 rào cản chính, trong đó, rào cản ngoại ngữ là khó khăn lớn nhất khiến nhiều ứng viên e ngại hoặc không đủ điều kiện đầu vào/đầu ra. Hơn nữa, gánh nặng kinh tế với chi phí đi lại, học tập cao dẫn tới áp lực lớn đối với cán bộ vùng cao.
Vì vậy, để đạt được mục tiêu này, cần có hỗ trợ tài chính, cụ thể hóa đề án bằng học bổng và sinh hoạt phí để người học yên tâm học tập. Mặt khác, nên tổ chức các lớp bồi dưỡng tiền sau đại học, tập trung lấp lỗ hổng ngoại ngữ cho học viên trước khi thi tuyển. Ngoài ra, nên xây dựng cơ chế đặt hàng, chuyển từ đào tạo tự phát sang đào tạo theo địa chỉ, gắn việc đi học với quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ của địa phương.
Còn theo thầy Trần Hữu Duy, bên cạnh những khó khăn về các điều kiện kinh tế xã hội, thì vấn đề tập tục, văn hóa và nhận thức của người dân tộc thiểu số trong vấn đề học tập còn hạn chế khiến cho việc tuyển sinh người dân tộc thiểu số ở trình độ cao gặp nhiều khó khăn, đặc biệt ở bậc sau đại học.
Do đó, để giải quyết bài toán khó khăn trong công tác tuyển sinh sau đại học, phải thực hiện đồng bộ các chính sách miễn học phí, miễn phí ký túc xá, hỗ trợ sinh hoạt phí và đẩy mạnh chính sách cử tuyển.
Đặc biệt, cần thực thi thêm chính sách hỗ trợ đi học cụ thể bằng một khoản ngân sách trọn gói khi người học hoàn thành khóa học (giống như chính sách thu hút nhân lực trình độ cao mà các địa phương, các trường đại học đang áp dụng hiện nay). Đồng thời, có sự bố trí, sắp xếp vị trí công tác phù hợp sau khi người học là người dân tộc thiểu số hoàn thành khóa học.