Nhiệm kỳ Đại hội XIII ghi dấu những quyết sách lớn về KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số

15/01/2026 06:40
Mộc Trà

GDVN- Đại hội XIV được kỳ vọng sẽ đề ra những định hướng đột phá, nhất là ưu tiên KHCN, ĐMST và chuyển đổi số làm động lực chính cho phát triển đất nước.

Nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng diễn ra trong bối cảnh đặc biệt khó khăn, phức tạp và nhiều biến động chưa từng có tiền lệ. Trong dòng chảy đó, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không chỉ tiếp tục được khẳng định là quốc sách hàng đầu, mà từng bước trở thành động lực quan trọng để phát triển đất nước.

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Tiến sĩ, Đại biểu Quốc hội Trần Văn Khải - Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội đã có một số chia sẻ, nhìn lại những thành tựu về lĩnh vực này trong giai đoạn vừa qua và bày tỏ những kỳ vọng khi hướng tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.

z7429585171151-211f464fd9b72d2d6151216f8df7a803.jpg
Tiến sĩ, Đại biểu Quốc hội Trần Văn Khải - Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội. Ảnh: NVCC.

Phóng viên: Thưa Tiến sĩ, Đại biểu Quốc hội Trần Văn Khải, những thành tựu, kết quả trong nhiệm kỳ Đại hội XIII, đâu là những dấu ấn ấn tượng nhất có thể nhắc lại, đặc biệt, đối với lĩnh vực khoa học công nghệ?

Đại biểu Quốc hội Trần Văn Khải: Nhiệm kỳ Đại hội XIII đã ghi dấu những bước tiến vượt bậc về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đảng và Nhà nước ban hành nhiều chủ trương, chính sách mạnh mẽ thúc đẩy các lĩnh vực này, chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 và đã đạt được “nhiều kết quả quan trọng”. Nổi bật nhất là Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Nghị quyết này lần đầu khẳng định phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là “đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính” để phát triển đất nước.

Trên tinh thần Nghị quyết số 57, cả hệ thống chính trị đã vào cuộc mạnh mẽ. Quốc hội nhanh chóng thể chế hóa các chủ trương thành luật pháp, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho đổi mới sáng tạo. Chỉ trong hai kỳ họp cuối nhiệm kỳ, Quốc hội XV thông qua 85 luật và 73 nghị quyết, tiêu biểu có Luật Công nghiệp Công nghệ số, Luật Chuyển đổi số, Luật Trí tuệ nhân tạo, Luật Bảo vệ dữ liệu… - đều là “những đạo luật có ý nghĩa nền tảng, tạo cơ sở pháp lý trực tiếp” cho phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Việc hoàn thiện thể chế đồng bộ, kịp thời đã gỡ bỏ nhiều rào cản và khơi thông nguồn lực cho khoa học công nghệ bứt phá.

Bộ máy chỉ đạo triển khai từ Trung ương đến địa phương được kiện toàn. Đảng ủy Quốc hội ban hành nghị quyết về xây dựng “Quốc hội số” đến năm 2030 và phê duyệt Đề án Chuyển đổi số trong Quốc hội giai đoạn 2025-2030. Đến cuối năm 2025, các cơ quan của Quốc hội đã triển khai hạ tầng điện toán đám mây, nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin, vận hành phòng họp thông minh và kết nối mạng diện rộng của Đảng; đồng thời đưa vào sử dụng kho dữ liệu số dùng chung (Q-Data) kết nối với dữ liệu Chính phủ và tích hợp trên ứng dụng Quốc hội 2.0. Những kết quả này giúp hoạt động quản trị, điều hành minh bạch, hiệu quả hơn, thể hiện quyết tâm cao độ trong việc chuyển đổi số các thiết chế Nhà nước.

Tóm lại, nhiệm kỳ Đại hội XIII đã tạo nên những dấu ấn nổi bật khi đưa khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực chính của phát triển đất nước. Từ chủ trương đột phá của Đảng đến hành động quyết liệt của Quốc hội và Chính phủ, một nền tảng thể chế, hạ tầng, nhân lực vững chắc đã được hình thành, sẵn sàng cho giai đoạn cất cánh mới.

Phóng viên: Thực tiễn phát triển khoa học, công nghệ trong nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng cho thấy những bài học xuyên suốt và có ý nghĩa như thế nào? Nền tảng cho giai đoạn tới đây là gì, thưa đại biểu?

Đại biểu Quốc hội Trần Văn Khải: Nhiệm kỳ Đại hội XIII cho thấy bài học quan trọng hàng đầu là coi phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực quyết định để phát triển đất nước, đúng như Đảng ta đã xác định đó “là yếu tố quyết định... là điều kiện tiên quyết để nước ta phát triển hùng cường”. Muốn vậy, cần có quyết tâm chính trị cao và sự tham gia đồng bộ của cả hệ thống chính trị, doanh nghiệp và nhân dân. Bài học thành công là phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn hệ thống, xem đây là một cuộc cách mạng toàn diện, lâu dài đòi hỏi triển khai kiên trì, nhất quán.

Bài học thứ hai là phải đột phá mạnh mẽ về tư duy, kịp thời, đồng bộ hoàn thiện thể chế, chính sách. Thực tiễn cho thấy ở đâu mạnh dạn tháo gỡ rào cản, ở đó khoa học, công nghệ bứt phá. Nghị quyết số 57-NQ/TW đã yêu cầu “đổi mới tư duy xây dựng pháp luật”, khuyến khích cái mới và “loại bỏ tư duy ‘không quản được thì cấm’”. Báo cáo tổng kết năm 2025 của Đảng ủy Quốc hội nhấn mạnh: thể chế hóa đầy đủ, kịp thời các chủ trương đột phá về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số “chính là chìa khóa mở đường cho phát triển nhanh và bền vững đất nước”.

Bài học thứ ba là phải đầu tư xứng đáng và đồng bộ cho các trụ cột khoa học, công nghệ. Chính phủ đã rút ra rằng, cần tăng tỉ lệ chi cho R&D, ưu tiên nguồn lực cho các công nghệ cao (như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn) và xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo gắn kết chặt chẽ giữa lực lượng khởi nghiệp, doanh nghiệp và các trung tâm đổi mới sáng tạo, quỹ đầu tư. Đồng thời, cần hoàn thiện cơ chế bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và chia sẻ dữ liệu nhằm tạo môi trường thuận lợi cho đổi mới sáng tạo.

Một bài học quan trọng khác của nhiệm kỳ vừa qua là chú trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, có “cơ chế, chính sách đặc biệt về nhân tài” để thu hút người giỏi cống hiến.

Như vậy, những bài học trên đã tạo nên nền tảng vững chắc cho giai đoạn 2026-2030: chúng ta có định hướng chiến lược đúng đắn, thể chế chính sách ngày càng hoàn thiện và quyết tâm, đồng thuận cao từ Trung ương đến cơ sở. Đó chính là tiền đề để Việt Nam tự tin bước vào chặng đường phát triển mới, tận dụng thời cơ và đưa đất nước vươn lên mạnh mẽ trên nền tảng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

gdvn-anh-minh-hoa-1.jpg
Ảnh minh họa: Mộc Trà.

Phóng viên: Việt Nam đã đặt ra mục tiêu đến năm 2030, thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu Đông Nam Á, nhóm 50 nước đứng đầu thế giới về năng lực cạnh tranh số và chỉ số phát triển Chính phủ điện tử... Đồng thời, đẩy mạnh chuyển đổi số gắn với bảo đảm an ninh, an toàn; tập trung xây dựng xã hội số, số hóa toàn diện hoạt động quản lý nhà nước, cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ cao; kết nối đồng bộ các cơ sở dữ liệu quốc gia; phát triển kinh tế số, xây dựng công dân số. Đại biểu có chia sẻ gì đối với nội dung này?

Đại biểu Quốc hội Trần Văn Khải: Theo Nghị quyết số 57, Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2030, xây dựng thành công Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số ở mức tiên tiến trên thế giới. Cụ thể, Việt Nam phấn đấu thuộc “nhóm 50 nước đứng đầu thế giới về chỉ số phát triển Chính phủ điện tử”, đồng thời nằm trong nhóm dẫn đầu khu vực về năng lực cạnh tranh số và trí tuệ nhân tạo. Quy mô kinh tế số đến năm 2030 dự kiến đạt tối thiểu 30% GDP quốc gia.

Đồng thời, Việt Nam phấn đấu có tối thiểu 5 doanh nghiệp công nghệ số ngang tầm quốc tế, hình thành các tập đoàn số dẫn dắt thị trường trong nước và vươn ra toàn cầu. Tỉ lệ sử dụng dịch vụ công trực tuyến của người dân và doanh nghiệp sẽ vượt 80%, và tỉ lệ giao dịch không dùng tiền mặt cũng đạt khoảng 80%.

Bên cạnh đó, Việt Nam chủ trương phát triển toàn diện các thành tố của xã hội số. Người dân được trang bị kỹ năng số và tham gia vào môi trường số an toàn, thuận tiện. Hạ tầng số quốc gia sẽ hiện đại, phủ sóng 5G trên phạm vi toàn quốc vào năm 2030, tạo nền tảng cho mọi hoạt động kinh tế - xã hội trên không gian mạng. Các đô thị thông minh được triển khai tại tất cả các thành phố trực thuộc Trung ương, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống người dân.

Đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm an toàn, an ninh thông tin như một nền tảng cốt lõi để chuyển đổi số thành công, đưa Việt Nam“thuộc nhóm các nước dẫn đầu về an toàn, an ninh không gian mạng, an ninh dữ liệu”.

Những mục tiêu đến 2030 nói trên thể hiện quyết tâm cao độ của Việt Nam trong việc trở thành một quốc gia số phát triển.

Theo chỉ đạo của Tổng Bí thư, chuyển đổi số phải gắn liền với đổi mới sáng tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, từ đó tạo ra bứt phá về năng suất, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế số.

Tầm nhìn đến năm 2030, một Chính phủ số minh bạch, hiệu quả sẽ phục vụ người dân tốt hơn; một nền kinh tế số chiếm tỉ trọng cao sẽ thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững; và một xã hội số an toàn, nhân văn sẽ giúp mọi người dân thụ hưởng tiện ích của công nghệ, đóng góp vào mục tiêu đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.

Phóng viên: Năm 2026 đánh dấu khởi đầu một giai đoạn phát triển mới, gắn với triển khai Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2026-2030. Từ những chỉ đạo quan trọng của Tổng Bí thư cũng như những dấu ấn nổi bật của nhiệm kỳ Đại hội XIII, đại biểu có kỳ vọng gì ở Đại hội XIV, ở năm 2026 và giai đoạn tiếp theo?

Đại biểu Quốc hội Trần Văn Khải: Bước vào Đại hội XIV, các đại biểu mang theo kỳ vọng lớn lao dựa trên những thành tựu vững chắc của nhiệm kỳ Đại hội XIII. Đại hội lần này diễn ra vào thời điểm kết thúc 40 năm Đổi mới, do đó “cán bộ, đảng viên và Nhân dân đặt kỳ vọng vào Đại hội XIV với những quyết sách đúng đắn, mạnh mẽ của Đảng để đưa đất nước tiến mạnh trong kỷ nguyên mới”. Các đại biểu tin tưởng, Đại hội XIV sẽ tiếp tục khơi dậy khát vọng mãnh liệt, tận dụng nền tảng sẵn có để đưa đất nước bước vào giai đoạn mới.

Trên cơ sở nền tảng đã được thiết lập, Đại hội XIV được kỳ vọng sẽ đề ra những định hướng đột phá, nhất là ưu tiên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính cho phát triển đất nước, đúng như Dự thảo Văn kiện đã nêu.

Các đại biểu kỳ vọng định hướng này sẽ được thông qua và triển khai quyết liệt, đưa đất nước bứt phá mạnh mẽ. Mục tiêu tăng trưởng kinh tế bình quân 10%/năm trong nhiệm kỳ tới, một con số đầy tham vọng, đang được đặt ra, nhưng hoàn toàn có cơ sở, bởi “...cuối nhiệm kỳ XIII, đất nước có đủ dư địa” để đạt tốc độ tăng trưởng hai con số.

Đại biểu cũng kỳ vọng Đại hội XIV sẽ đổi mới mạnh mẽ phương thức hành động. Lần đầu tiên, dự thảo Báo cáo chính trị đã xây dựng Chương trình hành động của Ban Chấp hành Trung ương khoá XIV như một bộ phận của Văn kiện, “khắc phục tình trạng sau Đại hội... phải chờ đợi cụ thể hoá Nghị quyết”. Các đại biểu mong muốn ngay sau Đại hội, cả hệ thống chính trị sẽ bắt tay ngay thực hiện những nhiệm vụ trọng tâm và sớm tháo gỡ những điểm nghẽn, hạn chế còn tồn tại trong phát triển kinh tế - xã hội.

Có thể nói, từ nền tảng vững chắc đã đạt được, Đại hội XIV năm 2026 được kỳ vọng sẽ đánh dấu bước chuyển quan trọng, toàn diện đưa đất nước sang giai đoạn phát triển mới.

Đại biểu tin tưởng Đại hội sẽ củng cố sự đoàn kết, đồng thuận trong Đảng và toàn xã hội, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần sáng tạo, tự cường của dân tộc. Với những quyết sách kịp thời, đúng đắn và khát vọng mãnh liệt, Đại hội XIV sẽ mở ra chặng đường phát triển rực rỡ, hướng tới mục tiêu đến năm 2030 nước ta trở thành nước công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến 2045 thành nước phát triển, thu nhập cao.

Phóng viên: Trân trọng cảm ơn những chia sẻ của đại biểu!

Mộc Trà