Mạng lưới trên cả nước hiện nay có hơn 30 cơ sở giáo dục đại học tham gia "đường đua" đào tạo ngành Y khoa. Mặc dù điều này góp phần bổ sung nguồn nhân lực cho hệ thống y tế, nhưng cũng đặt ra thách thức về sự thiếu đồng bộ trong năng lực đào tạo giữa các cơ sở giáo dục khác nhau. Trước thực trạng đó, việc chuẩn hóa các điều kiện mở ngành được xem là yêu cầu cần thiết để bảo đảm chất lượng nhân lực y tế trong bối cảnh nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng tăng.
Có thể thấy, Y khoa là ngành học đòi hỏi sự gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo lý thuyết với thực hành lâm sàng tại bệnh viện, cùng đội ngũ giảng viên chuyên sâu và hệ thống kiểm định độc lập. Việc thắt chặt điều kiện mở ngành, tiến tới giới hạn phạm vi chỉ được đào tạo bác sĩ chủ yếu tại các trường chuyên về khối ngành Y dược nhận được nhiều sự quan tâm từ giới chuyên môn nhằm đảm bảo tính thống nhất và đáp ứng chuẩn đầu ra khắt khe đặc thù của lĩnh vực này.
Còn tồn tại thực tế chất lượng đào tạo và quá trình hành nghề vẫn có độ vênh
Việt Nam đặt mục tiêu mạng lưới cơ sở y tế từ trung ương đến địa phương đủ năng lực đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe nhân dân tương đương với nước phát triển, thu nhập cao; phấn đấu đạt 35 bác sĩ trên 10.000 dân đến năm 2050 theo Quy hoạch mạng lưới y tế thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 của Thủ tướng Chính phủ [1].
Xác định nguồn nhân lực là một trong những yếu tố đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh phục vụ nhu cầu chăm sóc sức khỏe của xã hội, trao đổi về vấn đề này, ông Phạm Văn Học - Chủ tịch Hội đồng thành viên, Tổng Giám đốc Hệ thống y khoa Hùng Vương (Phú Thọ) cho biết, vấn đề cốt lõi trong chất lượng đào tạo bác sĩ không nằm ở việc phân định giữa hệ thống công lập hay tư thục, mà nằm ở tính chuyên sâu, chuyên biệt của cơ sở đào tạo. Xu hướng và quan điểm quản lý nhà nước cần kiên định theo hướng đào tạo y khoa phải được thực hiện tại các trường chuyên có truyền thống giảng dạy lĩnh vực này.
Việc cho phép các cơ sở giáo dục đại học đa ngành vốn không có thế mạnh cốt lõi về đào tạo khối sức khỏe nhưng mở mã ngành Y khoa là một vấn đề cần được cân nhắc kỹ lưỡng, bởi có thể ảnh hưởng đến việc đáp ứng đầy đủ các yêu cầu đặc thù và khắt khe của nghề y. Để giải quyết bài toán về chất lượng đào tạo bác sĩ, một yêu cầu mang tính bắt buộc là phải thiết lập được hệ thống kiểm định bảo đảm chất lượng đào tạo thực chất. Một trường đại học mở ngành Y khoa đạt chuẩn không thể hoạt động đơn lẻ mà cần vận hành như một hệ sinh thái đồng bộ, bao gồm chương trình đào tạo tiên tiến, đội ngũ giảng viên vừa giỏi lý thuyết vừa vững tay nghề, cùng hệ thống bệnh viện thực hành và cơ chế kiểm định độc lập.
Ảnh minh họa: L.D.
Giảng viên ngành y cần giữ vai trò kép khi vừa là người giảng dạy lý thuyết, vừa là người trực tiếp tham gia khám, chữa bệnh lâm sàng. Chính sự cọ xát thực tế này giúp tạo nên chiều sâu trong bài giảng và kỹ năng. Do đó, trường đại học đào tạo ngành y nếu sở hữu hệ thống bệnh viện thực hành đi kèm và tập trung nguồn lực chuyên sâu cho các khối ngành sức khỏe sẽ bảo đảm được chất lượng đầu ra tốt so với các cơ sở đào tạo dàn trải, thiếu hụt môi trường lâm sàng. Các cơ sở giáo dục đều đảm bảo hệ thống bệnh viện thực hành và cơ chế kiểm định độc lập được thực hiện một cách nghiêm túc và minh bạch sẽ góp phần tạo dựng môi trường cạnh tranh lành mạnh bằng năng lực thực sự.
Xuất phát từ định hướng đề cao tính chuyên môn hóa đó, việc siết chặt chất lượng đào tạo là bước đi cần thiết để bảo vệ sự an toàn cho người bệnh và uy tín của ngành, để chất lượng phải đi kèm với số lượng trường đại học đào tạo ngành Y khoa. Việc siết chặt công tác quản lý không phải là gây khó khăn, mà là để đảm bảo rằng mỗi tấm bằng bác sĩ được cấp ra đều đại diện cho năng lực hành nghề đạt chuẩn, đáp ứng được sự kỳ vọng của người dân.
Bên cạnh đó, một giải pháp nên được thúc đẩy triển khai mạnh mẽ hơn là việc tăng cường tính gắn bó chặt chẽ hơn nữa trong mối quan hệ giữa nhà trường và bệnh viện. Hiện nay còn tồn tại một thực tế là quá trình đào tạo và quá trình hành nghề đâu đó vẫn còn độ vênh, khiến người học sau khi ra trường chưa thể bắt nhịp ngay với công việc. Với vai trò là đơn vị sử dụng lao động, bệnh viện mong muốn được chủ động đặt hàng với các trường đại học.
Sự hợp tác này không nên chỉ dừng lại ở mức độ hành chính, mà còn cần đi vào chiều sâu, cho phép các bệnh viện được tham gia sâu rộng hơn, chặt chẽ hơn ngay từ những giai đoạn đầu của quá trình đào tạo. Khi bệnh viện được tham gia vào môi trường học thuật, cùng tham gia xây dựng chương trình và đánh giá năng lực thì sản phẩm đầu ra của các nhà trường sẽ sát hơn với thực tiễn, chất lượng cao hơn, tạo nên sự cộng hưởng giá trị mang lại lợi ích cho cả người học, cơ sở đào tạo và cơ sở y tế.
Đồng quan điểm với ý kiến trên, Thầy thuốc ưu tú, Tiến sĩ, Bác sĩ Chuyên khoa II Phạm Hưng Củng - nguyên Vụ trưởng Vụ Y học cổ truyền, Bộ Y tế nhận định: Để đào tạo bác sĩ, các trường đại học phải chuẩn bị kỹ lưỡng nhằm đáp ứng đầy đủ hệ thống điều kiện mang tính bắt buộc gồm đội ngũ giảng viên cơ hữu có trình độ chuyên môn cao, hệ thống phòng thí nghiệm và thực hành tiền lâm sàng đạt chuẩn, cùng chương trình đào tạo tiếp cận y học hiện đại. Đối với ngành Y khoa đặc thù, yếu tố được xem là xương sống của chất lượng đào tạo chính là việc cơ sở giáo dục đảm bảo có bệnh viện thực hành hoặc ký kết hợp tác chặt chẽ với bệnh viện đạt chuẩn để sinh viên có môi trường rèn luyện lâm sàng.
Song, nhìn vào bức tranh thực tiễn hiện nay, xu hướng mở ngành Y khoa tại một số trường đại học đa ngành đang gia tăng, phần nào được thúc đẩy bởi sức hút từ nhu cầu tuyển sinh cũng như bài toán kinh tế và lợi ích tài chính. Tuy nhiên, điều kiện về cơ sở thực hành và đội ngũ giảng viên lâm sàng cần được đảm bảo đầy đủ, đồng thời đòi hỏi đội ngũ giảng viên không chỉ vững nền tảng chuyên môn, khoa học mà còn có kỹ năng bài bản về phương pháp sư phạm. Do đó, trường hợp nếu cơ sở đào tạo mượn giảng viên hoặc chỉ gom đủ hồ sơ để kịp đáp ứng tiêu chí mở ngành, thì người học sẽ bị tách rời khỏi môi trường lâm sàng.
Ảnh minh họa: HMU.
Chất lượng đào tạo cần được thực hiện thực chất, tránh việc chỉ hoàn thiện hồ sơ để đủ điều kiện mở ngành mà chưa đảm bảo được chiều sâu trong giảng dạy, dẫn đến nguy cơ sinh viên thiếu sự gắn kết với thực tế điều trị. Ngoài ra, công tác dự báo nhu cầu và xác định quy mô tuyển sinh cũng cần sự cân nhắc kỹ lưỡng để phù hợp với năng lực tiếp nhận thực hành của các cơ sở y tế, tránh tình trạng quá tải khiến sinh viên ít có cơ hội được bác sĩ hướng dẫn.
Vì vậy, việc định hướng để công tác đào tạo nhân lực y tế trở về đúng quỹ đạo tại các cơ sở giáo dục có truyền thống và thế mạnh chuyên sâu về ngành đặc thù này là một yêu cầu cần thiết. Điều này không chỉ giúp củng cố niềm tin của người dân mà còn là chốt chặn quan trọng để chất lượng đào tạo được đảm bảo đồng bộ. Có thể nói, việc chuẩn hóa và siết chặt công tác đào tạo trong giai đoạn hiện nay là phù hợp với nhu cầu đặt ra trong thực tiễn.
Chuẩn hóa hệ sinh thái thực hành và thiết lập thước đo kiểm định chuyên biệt
Đào tạo y khoa không thể tách rời khỏi hệ sinh thái thực hành hoàn chỉnh, nơi mà giảng đường, phòng thí nghiệm và bệnh viện kết hợp thành một chỉnh thể thống nhất. Theo ông Phạm Hưng Củng, các trường đại học đào tạo Y khoa có bề dày truyền thống thường có lợi thế lớn trong việc duy trì và phát triển hệ sinh thái. Đó là sự kết nối chặt chẽ với mạng lưới bệnh viện tuyến cuối, hệ thống phòng thí nghiệm đạt chuẩn cùng đội ngũ giảng viên lâm sàng giàu kinh nghiệm và truyền thống đào tạo vững chắc.
Những giá trị tích lũy về chiều sâu chuyên môn, văn hóa nghề nghiệp và hệ thống cơ sở thực hành này là nền tảng vững chắc mà các cơ sở đào tạo mới thành lập có thể cần nhiều thời gian và lộ trình dài hạn để xây dựng và hoàn thiện, khó để thực hiện nhanh chóng ngay trong một sớm một chiều. Nhất là khi Y khoa là lĩnh vực đào tạo dài hạn, nhiều tầng kiểm soát, đòi hỏi quá trình đánh giá năng lực xuyên suốt.
Trong bối cảnh y tế Việt Nam đang từng bước hội nhập và hướng tới tiệm cận với các chuẩn mực của khu vực cũng như quốc tế, yêu cầu đối với chất lượng đào tạo ngày càng trở nên khắt khe hơn. Để đáp ứng được điều này, người học cần được cọ xát trong môi trường bệnh viện thực hành, tiếp cận với các ca bệnh phức tạp dưới sự hướng dẫn của những bác sĩ điều trị dạn dày kinh nghiệm. Mục tiêu cuối cùng và quan trọng nhất không chỉ là tấm bằng tốt nghiệp, mà là năng lực thực tế của bác sĩ - những người trực tiếp đưa ra các quyết định liên quan đến sức khỏe của người bệnh.
Thực tế này đặt ra yêu cầu cần thiết về việc phải xây dựng hàng rào kỹ thuật vững chắc để kiểm soát chất lượng đầu vào, đầu ra của ngành Y. Những chốt chặn này không phải là rào cản gây khó khăn, mà là cơ chế sàng lọc độc lập, khách quan, giúp chuẩn hóa năng lực hành nghề theo các chuẩn mực tiên tiến. Khi đó, bất kể xuất phát điểm từ cơ sở đào tạo nào, mọi bác sĩ trong tương lai đều có thể đáp ứng cùng bộ tiêu chuẩn khắt khe về y lý và y thuật. Điều này giúp giải quyết những lo ngại về sự chênh lệch chất lượng đào tạo, đáp ứng hệ thống y tế đối với xã hội.
Cùng chia sẻ về vấn đề này, Giáo sư, Tiến sĩ Lê Quang Cường - Chủ tịch Hội Giáo dục Y học Việt Nam chỉ ra một rào cản lớn hiện nay là nhiều bác sĩ rất giỏi chuyên môn nhưng phương pháp sư phạm còn thiên về truyền đạt lý thuyết đơn thuần. Trong khi đó, đào tạo y khoa cần ở khả năng tư duy độc lập và ứng biến linh hoạt trước các loại bệnh tật. Vì vậy, để khi thực hành nghề nghiệp không bị lúng túng, người học phải được trang bị kiến thức ứng dụng thực tế bài bản.
Cụ thể, thực hành lâm sàng là yếu tố được xem quyết định đến 80% năng lực hành nghề của một bác sĩ, tuy nhiên vẫn còn tồn tại thực trạng một số bệnh viện phải gánh vai trò cơ sở thực hành cho hơn chục cơ sở đào tạo khác nhau. Sự quá tải này có thể dẫn đến tình trạng số lượng sinh viên lớn nhưng chủ yếu chỉ có thể quan sát thay vì trực tiếp thực hành nghề tại bệnh viện. Ngoài ra, thời gian để bác sĩ tại bệnh viện hướng dẫn, giám sát tay nghề cho số lượng đông sinh viên có thể bị thu hẹp đáng kể. Việc người học thiếu điều kiện để thực hành sẽ làm giảm chất lượng giảng dạy, tạo ra khoảng trống về kỹ năng nghề nghiệp.
Để công tác quản lý đào tạo về lĩnh vực sức khỏe nói chung và đào tạo bác sĩ nói riêng sát sao và chặt chẽ hơn, quy trình kiểm định và hệ thống tiêu chuẩn phải được xây dựng riêng biệt, khắt khe và không thể áp dụng rập khuôn hay sử dụng chung hệ quy chiếu với các ngành nghề khác. Đồng thời, việc chuẩn hóa đào tạo cần được định hướng tiệm cận với các chuẩn mực quốc tế nghiêm ngặt nhằm đảm bảo chất lượng nhân lực đầu ra. Cơ quan quản lý cũng tiếp tục duy trì cơ chế giám sát, thực thi chặt chẽ, kịp thời nhận diện và chấn chỉnh những bất cập phát sinh, từ đó nâng cao chất lượng toàn diện của hệ thống y tế.
Tài liệu tham khảo:
[1] https://vanban.chinhphu.vn/?pageid=27160&docid=20983