Nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao khoa học và công nghệ đã và đang là động lực then chốt cho phát triển kinh tế - xã hội.
Theo đại diện một số cơ sở giáo dục đại học, để các công trình nghiên cứu từ phòng thí nghiệm có thể đi vào thực tiễn và tạo ra giá trị cho xã hội, cần sự hợp tác chặt chẽ hơn với doanh nghiệp, địa phương và các tổ chức liên quan, cũng như có chiến lược rõ ràng.
Xác định ứng dụng thực tiễn là “đích đến” của mỗi đề tài nghiên cứu
Tại Trường Đại học Khoa học tự nhiên (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh), công tác chuyển giao khoa học công nghệ ngày càng được đẩy mạnh và ghi nhận những kết quả tích cực.
Theo báo cáo thường niên và công khai tài chính các năm học (từ 2021-2022 đến 2024-2025) cho thấy, nguồn thu từ nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ của nhà trường có sự tăng trưởng ổn định.
Năm 2021, Trường Đại học Khoa học tự nhiên (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) thu 6,73 tỷ đồng từ nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ. Con số này tăng mạnh lên khoảng 25,55 tỷ đồng năm 2022, sau đó tiếp đà tăng lên 33,06 tỷ đồng (năm 2023) và 40,60 tỷ đồng (năm 2024).
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Văn Mẫn - Trưởng phòng, Phòng Khoa học Công nghệ và Quan hệ đối ngoại, Trường Đại học Khoa học tự nhiên (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) khẳng định hoạt động chuyển giao khoa học công nghệ của nhà trường đã và đang được triển khai đồng bộ, gắn với thực tiễn.
Theo thầy Mẫn, triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, nhà trường xác định chuyển giao khoa học - công nghệ là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, gắn chặt với hoạt động nghiên cứu khoa học, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
Trong thời gian qua, nhà trường đã từng bước hoàn thiện cơ chế tổ chức hoạt động dịch vụ khoa học - kỹ thuật và chuyển giao công nghệ theo hướng đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm.
Trong đó, Phòng Khoa học Công nghệ và Quan hệ Đối ngoại được giao làm đầu mối tham mưu, điều phối và kết nối giữa các nhóm nghiên cứu của trường với doanh nghiệp, địa phương và các tổ chức liên quan, qua đó thúc đẩy quá trình đưa kết quả nghiên cứu từ phòng thí nghiệm vào ứng dụng thực tiễn.
“Nhiều nhiệm vụ khoa học và công nghệ của Trường Đại học Khoa học tự nhiên, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh được định hướng ngay từ khâu xây dựng đề tài theo nhu cầu thực tiễn, gắn với yêu cầu đổi mới công nghệ của doanh nghiệp và xã hội.
Đồng thời, nhà trường chú trọng đầu tư, từng bước xây dựng và hoàn thiện hoạt động sở hữu trí tuệ; ban hành các quy chế, dự thảo bộ quy trình hỗ trợ thương mại hóa và chuyển giao sản phẩm khoa học - công nghệ, tạo điều kiện thuận lợi cho giảng viên, nhà khoa học trong việc bảo hộ, khai thác và phát triển kết quả nghiên cứu”, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Văn Mẫn bày tỏ.
Theo các báo cáo công khai từ năm 2022 đến năm 2024 của Trường Đại học Nông Lâm (Đại học Thái Nguyên), năm 2022, nguồn thu từ nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ của nhà trường là 5,18 tỷ đồng. Đến năm 2023, nguồn thu này tăng lên 7,09 tỷ đồng và tính đến hết tháng 12/2024 giảm còn 4,5 tỷ đồng.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quang - Hiệu trưởng Trường Đại học Nông Lâm (Đại học Thái Nguyên) cho biết, những năm qua, nhà trường luôn dành sự quan tâm đặc biệt, ban hành những định hướng quyết liệt nhằm thúc đẩy phát triển khoa học và công nghệ, trọng tâm là nâng cao chất lượng kết quả nghiên cứu, đẩy mạnh chuyển giao và thương mại hóa một cách hiệu quả.
Theo thầy Quang, điều quan trọng là phải xác định đúng định hướng nghiên cứu và “đích đến” của mỗi đề tài, để các kết quả không dừng lại trên giấy tờ hay nằm yên trong phòng thí nghiệm, mà được đưa vào thực tiễn sản xuất, đời sống và tiến tới thương mại hóa. Qua đó phát huy giá trị khoa học và đóng góp thiết thực cho phát triển kinh tế - xã hội trong lĩnh vực nông - lâm nghiệp, một lĩnh vực giàu tiềm năng nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro và rào cản khi đưa sản phẩm ra thị trường.
“Lĩnh vực nông - lâm nghiệp đòi hỏi quá trình nghiên cứu cần được triển khai bài bản, xuyên suốt từ phòng thí nghiệm đến đồng ruộng, qua các bước thử nghiệm, đánh giá để lựa chọn được kết quả tối ưu, có tính khả thi cao khi chuyển giao và thương mại hóa.
Từ thực tiễn triển khai, nhà trường xác định mô hình liên kết chặt chẽ giữa nhà trường với doanh nghiệp, hợp tác xã trong nghiên cứu, chuyển giao và thương mại hóa là hết sức cần thiết, tiếp cận theo chuỗi giá trị.
Cụ thể, nhà trường đóng vai trò khởi tạo ý tưởng, tổ chức nghiên cứu, công bố kết quả, xây dựng tiêu chuẩn chất lượng, đăng ký sở hữu trí tuệ; đồng thời kết nối các đối tác để ứng dụng, thử nghiệm công nghệ, truy xuất nguồn gốc, xây dựng thương hiệu và đưa sản phẩm ra thị trường.
Những năm qua, nhà trường đã triển khai thành công một số mô hình chuyển giao, thương mại hóa sản phẩm nông nghiệp, mang lại hiệu quả rõ rệt trong liên kết với doanh nghiệp, hợp tác xã, nâng cao giá trị của kết quả nghiên cứu và được các địa phương đón nhận tích cực.
Qua đó, chúng tôi rút ra một số bài học quan trọng: thị trường phải là yếu tố dẫn dắt nghiên cứu; chất lượng, tính mới và tính bền vững của kết quả nghiên cứu cần được đặt lên hàng đầu; phải có cơ chế phân chia lợi ích rõ ràng giữa các bên liên quan (nhà khoa học - doanh nghiệp - người sản xuất) để tạo động lực đổi mới; đồng thời đảm bảo tính minh bạch và trách nhiệm đối với các kết quả nghiên cứu được chuyển giao và thương mại hóa”, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quang bày tỏ.
Vẫn còn khoảng cách lớn giữa nghiên cứu và nhu cầu thị trường, cần phối hợp chặt chẽ với doanh nghiệp
Thực tế cho thấy số lượng bài báo quốc tế được nhiều cơ sở giáo dục đại học công bố có xu hướng tăng (trong đó có Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh), nhưng tỷ trọng sản phẩm khoa học - công nghệ có khả năng ứng dụng và thương mại hóa để mang lại nguồn thu chưa cao.
Chia sẻ về vấn đề này, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Văn Mẫn khẳng định, việc gia tăng số lượng và chất lượng công bố quốc tế thuộc danh mục Scopus là kết quả tích cực của quá trình nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học và hội nhập quốc tế.
Tuy nhiên, tỷ trọng các sản phẩm khoa học - công nghệ có khả năng ứng dụng và thương mại hóa còn thấp cho thấy khoảng cách giữa nghiên cứu và nhu cầu thị trường vẫn còn khá lớn, đòi hỏi phải đổi mới mạnh mẽ tư duy và phương thức tổ chức hoạt động khoa học - công nghệ.
“Cần nhìn nhận rằng khả năng ứng dụng và thương mại hóa của sản phẩm khoa học - công nghệ phụ thuộc rất lớn vào bài toán từ đầu mà nhà khoa học được nhận.
Trong thực tiễn, các nhiệm vụ khoa học rất đa dạng, bao gồm: các bài toán nghiên cứu cơ bản phục vụ phát triển tri thức về tự nhiên và xã hội; các bài toán nghiên cứu phục vụ cộng đồng, an sinh xã hội; các nhiệm vụ khoa học - công nghệ do địa phương đặt hàng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội; và đặc biệt là các bài toán kỹ thuật, công nghệ xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp.
Trong bối cảnh hiện nay, với các chính sách mới của Nhà nước nhằm thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển khoa học - công nghệ và chuyển đổi số, doanh nghiệp sẽ có thêm động lực và điều kiện thuận lợi để đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D).
Khi hành lang pháp lý tiếp tục được hoàn thiện theo hướng thông thoáng, minh bạch và khuyến khích hợp tác, việc các trường đại học, viện nghiên cứu phối hợp chặt chẽ với doanh nghiệp trong nghiên cứu phát triển và chuyển giao công nghệ sẽ ngày càng gia tăng, qua đó từng bước thu hẹp khoảng cách giữa nghiên cứu khoa học và thị trường”, đại diện Trường Đại học Khoa học tự nhiên (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) nhấn mạnh.
Để giúp đội ngũ giảng viên và nhà khoa học cân bằng hài hòa giữa mục tiêu công bố quốc tế với mục tiêu tạo ra sản phẩm, công nghệ có giá trị ứng dụng thực tiễn, thầy Mẫn cho biết Trường Đại học Khoa học tự nhiên (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) đã từng bước điều chỉnh cơ chế đánh giá nhiệm vụ nghiên cứu khoa học theo hướng toàn diện hơn.
Trong đó, trọng tâm là số giờ nghiên cứu được lượng hóa thông qua hệ thống tiêu chí đa dạng, không chỉ dừng lại ở công bố khoa học mà còn bao gồm việc chủ trì, thực hiện đề tài; các hợp đồng, nhiệm vụ khoa học mang về; sản phẩm khoa học thể hiện qua bài báo, bằng sáng chế; hợp đồng chuyển giao công nghệ; cũng như các dự án hợp tác với doanh nghiệp.
Cách tiếp cận này góp phần tạo động lực thúc đẩy nghiên cứu gắn chặt với thực tiễn, đáp ứng nhu cầu xã hội và nâng cao hiệu quả chuyển hóa tri thức thành giá trị.
Còn theo Hiệu trưởng Trường Đại học Nông Lâm (Đại học Thái Nguyên), để nâng cao và thúc đẩy tỷ trọng các sản phẩm khoa học - công nghệ có khả năng ứng dụng và thương mại hóa, trong thời gian tới các cơ sở giáo dục đại học cần chủ động chuẩn bị đồng bộ nhiều nội dung quan trọng.
Trước hết, cần xây dựng cơ chế quản lý, chuyển giao/giao quyền và thương mại hóa tài sản trí tuệ hình thành từ hoạt động nghiên cứu, trong đó xác định rõ nguyên tắc chia sẻ lợi ích cũng như phương thức hợp tác công - tư giữa các bên liên quan.
Song song với đó, các trường cần thành lập trung tâm hoặc bộ phận chuyên trách về ươm tạo, chuyển giao công nghệ, xúc tiến thương mại và đổi mới sáng tạo; đồng thời trang bị các công cụ hỗ trợ như định giá tài sản trí tuệ, thử nghiệm trên diện rộng, chứng nhận tiêu chuẩn kỹ thuật và kết nối thị trường.
Bên cạnh việc hoàn thiện hạ tầng và cơ chế, nhà trường cũng cần tăng cường năng lực liên kết với doanh nghiệp, hợp tác xã và địa phương, qua đó doanh nghiệp và hợp tác xã trở thành lực lượng quan trọng đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường, còn địa phương là nơi triển khai, xây dựng và nhân rộng mô hình.
Đặc biệt, các cơ sở giáo dục đại học không nên chỉ phụ thuộc vào nguồn ngân sách nhà nước mà cần linh hoạt tiếp cận các kênh vốn khác như quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ khoa học - công nghệ của doanh nghiệp, quỹ đổi mới sáng tạo của địa phương hoặc các cơ chế hợp tác công - tư.
Cuối cùng, cần quan tâm xây dựng chiến lược phát triển theo từng giai đoạn gắn với định hướng nâng cao giá trị sản phẩm khoa học - công nghệ, từ đó cụ thể hóa thành kế hoạch hành động rõ ràng, tạo động lực bền vững cho quá trình thương mại hóa.