Trường Đại học Công nghệ-ĐHQGHN: Khẳng định uy tín đào tạo, cung cấp nhân lực KHCN, đổi mới sáng tạo

10/02/2026 06:30
Ngọc Mai

GDVN - Trường ĐH Công nghệ-ĐHQGHN khẳng định vai trò cung cấp nhân lực nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo.

Một trong những mục tiêu đặt ra tại Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, là đến năm 2030: “Nguồn nhân lực nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo đạt 12 người trên một vạn dân”.

Giới chuyên gia đánh giá đây là một mục tiêu mang tính chiến lược, phản ánh yêu cầu chuyển dịch mô hình tăng trưởng dựa trên tri thức, khoa học và công nghệ.

Còn với các cơ sở giáo dục đại học, mục tiêu mà Nghị quyết đặt ra vừa là trách nhiệm, vừa là cơ hội để khẳng định vai trò của cơ sở đào tạo trong việc góp phần vào xây dựng, phát triển nhân lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của quốc gia.

Khai thác hiệu quả nhân lực nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo

Với mục tiêu được đưa ra trong Nghị quyết số 57-NQ/TW, trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Giáo sư, Tiến sĩ Chử Đức Trình - Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ - Đại học Quốc gia Hà Nội bày tỏ niềm tin rằng với sự đồng thuận và nỗ lực chung của toàn hệ thống, trong đó các cơ sở giáo dục đại học phát huy được vai trò, sứ mệnh của mình thì sẽ đạt được mục tiêu đề ra.

thay-trinh-1.jpg
Giáo sư, Tiến sĩ Chử Đức Trình - Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ - Đại học Quốc gia Hà Nội. Ảnh: NVCC

Phân tích cụ thể về nội dung này, theo Giáo sư Chử Đức Trình, ở nhiều quốc gia trên thế giới, những người làm công việc nghiên cứu và phát triển (Research and Development - R&D) trong các doanh nghiệp, đặc biệt là các tập đoàn công nghệ lớn, đều được coi là một bộ phận quan trọng của đội ngũ nhân lực khoa học. Bởi, bản thân họ là những người trực tiếp tạo ra tri thức mới, chuyển hóa tri thức thành sản phẩm, công nghệ và giá trị kinh tế. Do đó, Giáo sư Chử Đức Trình cho rằng, khái niệm về nhân lực nghiên cứu khoa học cần được hiểu bao gồm cả đội ngũ làm nghiên cứu trong các trường đại học, viện nghiên cứu và lực lượng làm công việc nghiên cứu và phát triển (R&D) trong doanh nghiệp.

“Nếu tiếp cận từ góc độ trên, chúng ta hoàn toàn có khả năng đạt được mục tiêu đến năm 2030, trong số trên một vạn dân, sẽ có 12 người làm nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo”, Giáo sư Chử Đức Trình chia sẻ.

Tuy nhiên, hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ cho rằng, vấn đề đặt ra hiện nay không phải chỉ dừng lại ở việc phấn đấu đạt được số lượng nhân lực làm nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo, mà quan trọng hơn là phải làm thế nào để khai thác hiệu quả lực lượng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo trong thực tiễn.

Muốn vậy, cần phải có hệ sinh thái đầy đủ, nơi tri thức khoa học được nuôi dưỡng, chuyển hóa thành sản phẩm, đi vào sản xuất, đời sống và vươn tầm ra thị trường quốc tế.

Cụ thể, đòi hỏi phải có sự gắn kết chặt chẽ giữa nhà nước, cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu và doanh nghiệp. Trong đó, doanh nghiệp giữ vai trò trung tâm trong việc thương mại hóa các kết quả nghiên cứu.

“Vừa qua, với những nghị quyết đã được ban hành, ví dụ như Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 6/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước,... cùng với đó là Quyết định số 1131/QĐ-TTg ngày 12/6/2025 về Danh mục công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược được ban hành,... đã cho thấy quyết tâm của hệ thống trong việc thúc đẩy doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào các lĩnh vực công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp dựa trên tri thức”, Giáo sư Chử Đức Trình chia sẻ.

Một tiết học của sinh viên Trường Đại học Công nghệ - Đại học Quốc gia Hà Nội. Ảnh: UET
Một tiết học của sinh viên Trường Đại học Công nghệ - Đại học Quốc gia Hà Nội. Ảnh: UET

Cũng theo Giáo sư Chử Đức Trình chia sẻ, thị trường nghiên cứu phát triển R&D tại Việt Nam đang ngày càng sôi động, đặc biệt với sự tham gia mạnh mẽ của các tập đoàn công nghệ nước ngoài. Do đó, chúng ta có thể tận dụng những thuận lợi này để phát triển khoa học công nghệ. Ví dụ như Samsung đã đầu tư xây dựng trung tâm R&D quy mô lớn tại Việt Nam, hay Tập đoàn FPT xây dựng trung tâm R&D về công nghệ cao và chip bán dẫn,... coi đó là một trụ cột trong chiến lược toàn cầu, là minh chứng rõ nét cho tiềm năng của nguồn nhân lực khoa học Việt Nam nếu được đặt trong một môi trường phù hợp.

Sẵn sàng cung cấp nguồn nhân lực khoa học công nghệ chất lượng cao

Ngay từ khi thành lập, Trường Đại học Công nghệ – Đại học Quốc gia Hà Nội đã xác định rõ sứ mệnh đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao, bồi dưỡng nhân tài. Đồng thời đẩy mạnh nghiên cứu, phát triển và ứng dụng các lĩnh vực khoa học công nghệ tiên tiến. Trên nền tảng đó, nhà trường tiên phong tiếp cận các chuẩn mực giáo dục đại học của khu vực và thế giới, qua đó đóng góp tích cực vào sự phát triển của nền kinh tế và xã hội tri thức của đất nước.

Triết lý giáo dục của Trường Đại học Công nghệ được xác lập là “Sáng tạo và vun đắp giá trị nhân văn của công nghệ” (Creating and cultivating the human value of technology). Theo định hướng này, mục tiêu của một đại học nghiên cứu không chỉ dừng ở việc tiếp cận tri thức và công nghệ tiên tiến, mà còn hướng tới nâng cao năng lực sáng tạo tri thức và công nghệ mới; định hướng ứng dụng công nghệ vị nhân sinh, gắn với phát triển bền vững. Qua đó, nhà trường góp phần hình thành thế hệ công dân mới có năng lực chuyên môn, ý thức trách nhiệm và tinh thần phụng sự xã hội.

Trải qua 25 năm xây dựng và phát triển, Trường Đại học Công nghệ – Đại học Quốc gia Hà Nội luôn kiên định theo đuổi mục tiêu trở thành đại học nghiên cứu gắn với đổi mới sáng tạo, coi đây là trụ cột xuyên suốt trong chiến lược phát triển lâu dài của nhà trường.

Phòng thực hành Khoa Vật lý kỹ thuật và Công nghệ Nano của Trường Đại học Công nghệ - Đại học Quốc gia Hà Nội. Ảnh: UET
Phòng thực hành Khoa Vật lý kỹ thuật và Công nghệ Nano của Trường Đại học Công nghệ - Đại học Quốc gia Hà Nội. Ảnh: UET

Thực tiễn đào tạo, nghiên cứu và chuyển giao công nghệ cho thấy Trường Đại học Công nghệ ngày càng khẳng định vị thế là một trong những cơ sở đào tạo kỹ thuật – công nghệ hàng đầu Việt Nam. Nhiều lĩnh vực đào tạo và nghiên cứu của nhà trường đạt thứ hạng cao trên các bảng xếp hạng đại học quốc tế, phản ánh chất lượng học thuật và năng lực nghiên cứu ngày càng được khẳng định.

Với uy tín và thương hiệu đã được gây dựng, Trường Đại học Công nghệ trở thành địa chỉ tin cậy trong việc cung cấp nguồn nhân lực kỹ thuật, công nghệ chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường lao động trong nước và quốc tế. Qua đó, nhà trường góp phần tham gia trực tiếp vào việc hiện thực hóa mục tiêu xây dựng đội ngũ nhân lực nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo của quốc gia.

Chia sẻ từ thực tiễn hoạt động của nhà trường, Giáo sư, Tiến sĩ Chử Đức Trình cho biết, tư duy về sứ mệnh đào tạo của nhà trường được triển khai xuyên suốt trong việc thiết kế chương trình đào tạo, định hướng nghiên cứu và chiến lược phát triển dài hạn. Quy mô tuyển sinh của nhà trường tăng đều qua các năm. Vừa qua, năm 2025, nhà trường tuyển sinh khoảng 4.000 chỉ tiêu ở các bậc đào tạo, tập trung vào những lĩnh vực công nghệ mũi nhọn và nằm trong nhóm dẫn đầu cả nước.

Sinh viên Khoa Điện tử viễn thông, Trường Đại học Công nghệ đang thực hành tại phòng thí nghiệm. Ảnh: UET
Sinh viên Khoa Điện tử viễn thông, Trường Đại học Công nghệ đang thực hành tại phòng thí nghiệm. Ảnh: UET

Theo Giáo sư Chử Đức Trình, chúng ta cần nhìn nhận một cách thực tế rằng không phải toàn bộ sinh viên tốt nghiệp ra trường đều trở thành nhà khoa học, làm việc tại các trường đại học hay viện nghiên cứu. Nếu tiếp cận nguồn nhân lực khoa học theo cách này, chúng ta sẽ bỏ sót một lực lượng rất lớn đang trực tiếp tham gia vào việc tạo ra tri thức và giá trị công nghệ trong nền kinh tế, đó chính là đội ngũ sinh viên tốt nghiệp ra trường làm việc nghiên cứu và phát triển tại các doanh nghiệp.

Thực tế tại Trường Đại học Công nghệ cho thấy, tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp tham gia vào các hoạt động liên quan đến khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là rất cao. Phần lớn sinh viên sau khi ra trường làm việc tại các doanh nghiệp FDI, các tập đoàn công nghệ trong và ngoài nước, trực tiếp tham gia vào hoạt động nghiên cứu và phát triển sản phẩm. Một bộ phận các em tiếp tục học lên trình độ cao hơn, hình thành đội ngũ nghiên cứu kế cận. Một số khác lựa chọn con đường giảng dạy, nghiên cứu tại các cơ sở giáo dục đại học và viện nghiên cứu.

Như vậy, tính theo cách tiếp cận rộng về nhân lực khoa học, thì tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp của nhà trường tham gia vào đội ngũ nhân lực nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ là không dưới 50%. Con số này phản ánh vai trò thực chất của cơ sở giáo dục đại học trong việc cung cấp nguồn nhân lực nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo cho nền kinh tế tri thức.

Ngọc Mai