Góc nhìn của giáo viên phổ thông về những điểm mới trong dự thảo quy chế tuyển sinh đại học 2026

04/02/2026 09:51
Cao Nguyên

GDVN - Giáo viên có đôi điều chia sẻ về dự thảo Quy chế tuyển sinh trình độ đại học các ngành đào tạo và trình độ cao đẳng ngành Giáo dục Mầm non năm 2026.

Là giáo viên trực tiếp giảng dạy, tư vấn và đồng hành cùng học sinh lớp 12 trong quá trình chuẩn bị cho kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông và tuyển sinh đại học, người viết nhận thấy dự thảo Quy chế tuyển sinh trình độ đại học các ngành đào tạo và trình độ cao đẳng ngành Giáo dục Mầm non năm 2026 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, tác động sâu rộng tới học sinh, phụ huynh và nhà trường.

Dự thảo thể hiện rõ nỗ lực của Bộ Giáo dục và Đào tạo trong việc tiếp tục hoàn thiện cơ chế tuyển sinh theo hướng công bằng, minh bạch, nâng cao chất lượng đầu vào, đồng thời tăng cường trách nhiệm giải trình của các cơ sở đào tạo.

Nhiều nội dung trong dự thảo cho thấy sự tiếp thu ý kiến từ thực tiễn, đặc biệt là việc điều chỉnh các phương thức tuyển sinh, chuẩn hóa tiêu chí xét tuyển và khắc phục những bất cập đã phát sinh trong những năm gần đây.

Một số điểm mới như giới hạn phương thức tuyển sinh, chuẩn hóa điểm cộng, quy định rõ hơn về tổ hợp xét tuyển, siết xét tuyển học bạ và điều chỉnh số lượng nguyện vọng đều hướng tới mục tiêu chung đó là lựa chọn đúng người học, phù hợp với năng lực và định hướng nghề nghiệp.

737-6428-1149.jpg
Ảnh minh họa: Ngọc Ánh

Giới hạn nguyện vọng buộc thí sinh lựa chọn có trách nhiệm

Theo dự thảo Quy chế, thí sinh được đăng ký tối đa 10 nguyện vọng, sắp xếp theo thứ tự ưu tiên và chỉ trúng tuyển một nguyện vọng cao nhất; riêng các chương trình đào tạo giáo viên chỉ xét tuyển ở các nguyện vọng từ 01 đến 03.

Đây là một thay đổi quan trọng, thể hiện rõ chủ trương hạn chế tình trạng đăng ký tràn lan, đồng thời nâng cao trách nhiệm lựa chọn của thí sinh.

Từ thực tế tư vấn học sinh lớp 12, người viết cho rằng việc siết số nguyện vọng là cần thiết. Những năm qua, không ít học sinh đăng ký rất nhiều nguyện vọng, thậm chí trong kỳ tuyển sinh năm 2025 có nhiều trường hợp đăng ký cả trăm nguyện vọng, cá biệt có em đăng ký 231 nguyện vọng, với tâm lý “càng nhiều càng tốt”, thiếu cân nhắc giữa năng lực học tập, sở thích cá nhân và điều kiện kinh tế gia đình.

Hệ quả là nhiều em trúng tuyển vào ngành học không phù hợp, dẫn đến chán nản, bỏ học hoặc chuyển ngành ngay sau năm nhất, gây lãng phí nguồn lực cho cá nhân và xã hội.

Do đó, khi giới hạn số lượng nguyện vọng buộc học sinh phải suy nghĩ nghiêm túc hơn về định hướng nghề nghiệp, cân nhắc kỹ khả năng trúng tuyển, từ đó góp phần nâng cao chất lượng lựa chọn ngành học ngay từ đầu.

Riêng với các ngành đào tạo giáo viên, việc chỉ xét tuyển ở nguyện vọng 1-3 còn góp phần sàng lọc những thí sinh có động cơ nghề nghiệp rõ ràng, hạn chế tình trạng chọn sư phạm như một phương án “dự phòng”.

Không xét học bạ như một phương thức độc lập là bước điều chỉnh cần thiết

Một nội dung đáng chú ý khác trong dự thảo là xét tuyển bằng học bạ không còn được tổ chức như một phương thức tuyển sinh độc lập, tách rời khỏi kết quả thi tốt nghiệp trung học phổ thông.

Thay vào đó, thí sinh chỉ được sử dụng học bạ để xét tuyển khi đã đáp ứng ngưỡng bảo đảm chất lượng đầu vào, trong đó yêu cầu tối thiểu là tổng điểm ba môn thi tốt nghiệp trung học phổ thông đạt từ 16,00 điểm trở lên.

Đây là bước điều chỉnh mạnh mẽ, thể hiện quan điểm nhất quán của Bộ Giáo dục và Đào tạo trong việc gắn kết quả học tập phổ thông với các kỳ đánh giá chuẩn hóa.

Là giáo viên bậc trung học phổ thông, người viết hoàn toàn đồng tình với việc học bạ không còn được sử dụng như một phương thức tuyển sinh độc lập vì những lý do sau:

Thứ nhất, tình trạng mất kiểm soát chất lượng và “lạm phát” điểm số đâu đó vẫn còn tồn tại. Trên thực tế, khoảng cách giữa điểm học bạ và điểm thi tốt nghiệp trung học phổ thông ở nhiều địa phương vẫn có độ “vênh” đáng kể.

Khi học bạ trở thành một trong những yếu tố quyết định con đường vào đại học, áp lực thành tích dễ dẫn đến tình trạng giáo viên “nới tay” trong đánh giá. Những bảng điểm “đẹp” không phản ánh đúng năng lực thực chất của học sinh, gây khó khăn cho các trường đại học trong việc lựa chọn đầu vào.

Thứ hai, nguy cơ sinh viên “đứt gánh giữa đường” do hổng kiến thức. Thực tế cho thấy, việc không trải qua quá trình ôn luyện nghiêm túc cho các kỳ thi chuẩn hóa khiến nhiều em sớm đuối sức khi bước vào môi trường đào tạo đại học, gây lãng phí thời gian, công sức của người học và nguồn lực xã hội.

Thứ ba, tạo ra sự bất công giữa các vùng miền và loại hình trường học. Một học sinh xếp loại khá tại trường chuyên hoặc trường tốp đầu thường có năng lực vượt trội so với học sinh loại giỏi ở những nơi có tiêu chuẩn đánh giá lỏng lẻo.

Nếu sử dụng học bạ như một phương thức độc lập, sẽ gây thiệt thòi cho những học sinh học thật, thi thật trong môi trường nghiêm túc.

Thứ tư, làm gia tăng tình trạng “ảo” trong tuyển sinh và chiếm dụng chỉ tiêu. Việc thí sinh sở hữu nhiều giấy báo trúng tuyển sớm nhưng không nhập học khiến các trường đại học rơi vào thế bị động.

Thứ năm, làm suy giảm động lực học tập của học sinh. Việc sớm có “vé” vào đại học từ tháng 4, tháng 5 khiến không ít học sinh nảy sinh tâm lý chủ quan, buông lỏng việc học trong giai đoạn quan trọng nhất của bậc phổ thông.

Có thể khẳng định, việc bỏ xét học bạ độc lập trong tuyển sinh đại học giúp học sinh học thật để có năng lực thật. Một bảng điểm đẹp có thể giúp các em bước qua cánh cổng đại học, nhưng chỉ có kiến thức thực chất mới giúp các em đi xa và đi vững trên con đường tương lai.

(*) Văn phong, nội dung bài viết thể hiện góc nhìn, quan điểm của tác giả.

Cao Nguyên