Mô hình đại học cho kỷ nguyên mới của Việt Nam

05/02/2026 09:38
TS. Trần Thị Hằng & GS. Bùi Thị Minh Hồng

GDVN -Thực tiễn chứng minh đào tạo nhân lực chất lượng cao không tự động dẫn đến đổi mới nếu thiếu cơ chế chuyển hóa và năng lực hấp thụ.

Trong phạm vi bài viết này, 2 tác giả đề xuất khung mô hình mới xem đại học là thiết chế vận hành qua chuỗi 5 khâu liên kết: (1) Đào tạo là điểm khởi đầu; (2) Thiết kế tri thức để ứng dụng; (3) Đóng vai trò điều phối hệ sinh thái; (4) Đồng kiến tạo giá trị với xã hội; và (5) Đo lường dựa trên tác động thực tiễn. Theo đó, đẳng cấp không chỉ nằm ở danh hiệu do những đơn vị bên ngoài quốc gia công nhận, mà còn ở năng lực hệ thống trong việc chuyển hóa tri thức thành động lực phát triển bền vững cho quốc gia, mà nhiều yếu tố quan trọng không nhất thiết nằm trong các bảng xếp hạng đại học thế giới.

1-7.jpg
Ảnh minh họa

Chỉ còn đúng 20 năm nữa để Việt Nam hiện thực hóa khát vọng trở thành quốc gia phát triển nhân kỷ niệm 100 năm Ngày Việt Nam độc lập. Trong kỷ nguyên kinh tế tri thức này, vai trò của trường đại học không chỉ là "lò luyện thi" hay "nơi cấp bằng", mà phải là trái tim của hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia.

Trong hành trình hiện thực hóa khát vọng đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao vào năm 2045, giáo dục đại học đã được tái định vị không chỉ là một lĩnh vực an sinh xã hội, mà là động lực trung tâm của tăng trưởng năng suất và phát triển bền vững.

Chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2030, tầm nhìn 2045 đã thể chế hóa mục tiêu này, xác định rõ vai trò then chốt của nguồn nhân lực trình độ cao. Song hành với đó, Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị tiếp tục khẳng định khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là khâu đột phá chiến lược, tái định vị đại học như một cấu phần cốt lõi của "hạ tầng trí tuệ quốc gia".

Mô hình giáo dục đại học Anh-Mỹ kinh điển đã thiết lập một “luật chơi” toàn cầu, nơi sự tinh hoa được đo đếm bằng sản lượng nghiên cứu đỉnh cao, những bài báo đạt giải Nobel, và chỉ số trích dẫn, xem đây là nền tảng cạnh tranh học thuật. Các hệ thống xếp hạng quốc tế như QS hay THE đã thể chế hóa logic này, biến hoạt động công bố từ phương tiện lan tỏa tri thức thành mục tiêu tự thân, trong khi gần như bỏ ngỏ năng lực đóng góp giá trị thực chất cho kinh tế, xã hội và khu vực công. Chúng ta cần những cải tiến kỹ thuật giúp một nhà máy dệt may tăng năng suất, giải pháp nông nghiệp thông minh giúp tiết kiệm được năng lượng, phân bón và nguồn lao động, hay một hệ thống số cho phép công dân không cần phải tới các nơi công quyền để xác nhận nhân thân của chính họ, hay các thủ tục doanh nghiệp, tiết kiệm hàng ngàn tỉ đồng xây dựng trụ sở, văn phòng và trả lương cho nhân viên tiếp dân.

Sự đứt gãy này bắt nguồn từ hai giả định không còn hợp thời: Sự ngộ nhận về mối quan hệ “tự động” giữa đào tạo và đổi mới; Khoảng cách tri thức và sự thiếu hụt năng lực hấp thụ, nhất là ở những bối cảnh như Việt Nam.

5-3.jpg
Ảnh minh họa: UED

Để khắc phục những giới hạn này, chúng tôi đề xuất khung tiếp cận xem đại học như một thiết chế chuyển hóa có điều kiện, vận hành thông qua chuỗi kiến tạo giá trị gồm 5 khâu liên kết chặt chẽ.

Một là, đào tạo là điểm khởi đầu, không phải đích đến

Trong mô hình kiến tạo giá trị, đào tạo giữ vai trò điểm khởi đầu bắt buộc nhưng không phải là kết quả cuối cùng. Đào tạo tạo lập năng lực nền tảng cho cá nhân và tổ chức, song tự thân nó không bảo đảm tạo ra đổi mới sáng tạo nếu thiếu các cơ chế chuyển hóa tiếp nối. Nếu không được thiết kế gắn liền với các cơ chế chuyển hóa sang khu vực thực tế, hệ thống sẽ rơi vào tình trạng thừa văn bằng nhưng thiếu thực tế và sự sáng tạo để bứt phá.

Hai là, từ sản xuất tri thức sang thiết kế tri thức để sử dụng

Các nghiên cứu quốc tế cảnh báo rằng nếu thiếu định hướng chiến lược về “sứ mệnh thứ ba” - chuyển giao tri thức, đại học khó có thể chuyển hóa tri thức thành giá trị kinh tế - xã hội. Các trường đại học cần chuyển trọng tâm từ sản xuất tri thức thuần túy sang thiết kế tri thức để sử dụng, nghĩa là cấu hình tri thức nhằm giải quyết các vấn đề cụ thể thông qua công nghệ, tiêu chuẩn kỹ thuật hoặc tư vấn chính sách - một năng lực không thể đo lường bằng các chỉ số xuất bản truyền thống. Một giải pháp giúp nông dân tưới tiêu tiết kiệm, một quy trình giúp doanh nghiệp giảm rác thải... dù không được đăng trên tạp chí Nature - tạp chí khoa học hàng đầu thế giới - vẫn là những đóng góp vàng mười cho năng suất quốc gia.

Ba là, đại học như nút điều phối của hệ sinh thái kinh tế, xã hội và môi trường

Kiến tạo giá trị bền vững đòi hỏi một chu trình tích hợp: cảm biến vấn đề, nắm bắt cơ hội và tái cấu trúc nguồn lực. Trong bối cảnh Việt Nam còn nhiều ma sát thể chế, vai trò điều phối này là quyết định. Đại học không chỉ là nơi nghiên cứu, mà phải là nút điều phối của hệ sinh thái, có năng lực thiết lập các cơ chế trung gian (như vườn ươm, trung tâm chuyển giao, diễn đàn chính sách, tư vấn chính sách) để đưa tri thức từ không gian học thuật sang không gian sử dụng hiệu quả.

Bốn là, môi trường hấp thụ và đồng kiến tạo

Giá trị phát triển không được tạo ra đơn tuyến mà được đồng kiến tạo trong hệ sinh thái. Các nghiên cứu cho thấy tác động của đổi mới sáng tạo chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ môi trường tri thức và thể chế. Các trường đại học phải thiết kế các điều kiện để hệ sinh thái có thể tạo sinh và hấp thụ giá trị, bao gồm việc mở rộng kênh lan tỏa tri thức và điều chỉnh cơ chế sở hữu trí tuệ linh hoạt, phù hợp với trình độ hấp thụ hiện hữu của doanh nghiệp và các cơ quan công quyền Việt Nam.

Năm là, đo lường và phản hồi: Tích hợp chuỗi giá trị

Để tích hợp chuỗi giá trị hiệu quả cần cơ chế đo lường và phản hồi hữu hiệu. Thay vì các chỉ số thành tích bề nổi, năng lực kiến tạo giá trị cần được đánh giá dựa trên khả năng minh chứng tác động trên bốn trụ cột: kinh tế, xã hội, môi trường và thể chế. Các khung tham chiếu quốc tế hiện đại cũng đang chuyển trọng số đánh giá từ đầu ra học thuật sang giá trị cộng đồng và các mục tiêu phát triển bền vững. Chỉ khi có cơ chế đo lường và phản hồi chính xác, đại học mới thực sự trở thành một tổ chức liên tục học hỏi, tự điều chỉnh, và chuyển đổi không ngừng theo hướng tạo ra các giá trị mới cho xã hội.

2.jpg
Ảnh minh họa: BUV

Tóm lại, mục đích cuối cùng của giáo dục đại học không chỉ là phân phối giá trị một lần, mà là tái đầu tư có chủ đích để duy trì và nâng cấp nguồn lực nội tại: tích lũy – tái tạo – khuếch đại. Năng lực của các trường đại học thể hiện qua cơ chế lựa chọn lĩnh vực, đối tượng, và hạ tầng đầu tư. Các khung lý thuyết mới về xác lập giá trị tri thức nhấn mạnh rằng hoạt động chuyển giá trị cần được phối hợp đa chiều, bao gồm đóng góp văn hóa, chính sách và đổi mới. Đại học không dàn trải nguồn lực mà tập trung vào những năng lực có khả năng duy trì chuẩn mực học thuật cao và dẫn dắt hệ sinh thái tri thức quốc gia.

Để làm được điều này, cần một sự đồng thuận và thay đổi đồng bộ từ cả phía cơ quan quản lý nhà nước, như trong việc thay đổi cơ chế đánh giá, cấp vốn; và bản thân các trường đại học, như trong việc luôn sẵn sàng tái cấu trúc mô hình vận hành để thích ứng, và có trách nhiệm cũng như giải trình cao với xã hội. Khi và chỉ khi các trường đại học Việt Nam tập trung vào những khát vọng lớn cho đất nước trong cả bốn sứ mệnh: giáo dục, nghiên cứu, chuyển giao khoa học và công nghệ, và sáng tạo đổi mới vì cộng đồng, chúng ta mới thực sự sở hữu những đại học đẳng cấp đúng nghĩa – những thiết chế đóng vai trò dẫn dắt, là động cơ vĩnh cửu cho sự thịnh vượng và phát triển của dân tộc trong hàng trăm năm sau.

TS. Trần Thị Hằng & GS. Bùi Thị Minh Hồng