Tính mạng người bệnh đặt trong tay bác sĩ nên yêu cầu đối với sinh viên y khoa phải đặt ở mức cao

12/02/2026 06:30
Thu Trang

GDVN -Chỉ khi bảo đảm đồng bộ cả bốn yếu tố thì công tác đào tạo bác sĩ mới thực sự đáp ứng yêu cầu bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe người dân

Trước tốc độ mở ngành đào tạo Y khoa một cách ồ ạt của một số trường, vấn đề bảo đảm chất lượng đào tạo ngành Y, đặc biệt là đào tạo bác sĩ, đang thu hút sự quan tâm lớn của dư luận.

Công tác đào tạo bác sĩ cần đáp ứng ba trụ cột cốt lõi

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Bác sĩ Đỗ Văn Dũng - nguyên Phó hiệu trưởng Trường Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh chia sẻ, khác với việc sửa chữa máy móc hay các sai sót kỹ thuật thông thường, sai sót trong hoạt động y khoa trực tiếp tác động đến sinh mệnh con người, để lại những hệ lụy khôn lường không chỉ đối với người bệnh mà còn với gia đình và toàn xã hội.

Vì vậy, công tác đào tạo bác sĩ cần được xây dựng và triển khai dựa trên ba trụ cột cốt lõi. Trước hết là chương trình đào tạo cần có cấu trúc khoa học, hợp lý, nhằm trang bị cho người học nền tảng kiến thức và kỹ năng toàn diện.

Đồng thời, nội dung đào tạo phải chú trọng năng lực can thiệp chính xác trong các tình huống cấp cứu, khả năng chẩn đoán và điều trị các bệnh lý phổ biến. Đồng thời, cần nhận biết và xử trí các bệnh lý có gánh nặng bệnh tật cao như ung thư, bệnh tim mạch, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. Bên cạnh đó, chương trình cũng cần tăng cường đào tạo kỹ năng giao tiếp, hiểu biết về hệ thống y tế và khả năng phối hợp đa ngành.

Đặc biệt, việc xây dựng nền tảng tư duy khoa học và kỹ năng tự học là yêu cầu bắt buộc, giúp bác sĩ có thể liên tục cập nhật kiến thức hoặc tiếp tục học tập ở các trình độ chuyên sâu trong suốt quá trình hành nghề.

Thứ hai là đội ngũ giảng viên. Giảng viên đào tạo bác sĩ không chỉ cần có trình độ chuyên môn sâu, kỹ năng thực hành thuần thục và kinh nghiệm lâm sàng phong phú, mà còn phải đáp ứng yêu cầu về năng lực sư phạm. Đặc biệt, khả năng truyền đạt kiến thức một cách chính xác, cô đọng, dễ hiểu giữ vai trò đặc biệt quan trọng.

Thứ ba là cơ sở vật chất phục vụ đào tạo. Các trường đại học đào tạo y khoa cần xây dựng một hệ sinh thái học tập hoàn chỉnh, bao gồm hệ thống giảng đường hiện đại, phòng thí nghiệm, thư viện phong phú về học liệu và tài nguyên học thuật.

Đặc biệt, Trung tâm huấn luyện kỹ năng (Skillslab) và Trung tâm mô phỏng là những hạng mục bắt buộc, giúp sinh viên rèn luyện kỹ năng chuyên môn trong môi trường an toàn trước khi tiếp xúc trực tiếp với người bệnh. Cuối cùng, hệ thống các bệnh viện thực hành và bệnh viện liên kết đóng vai trò là môi trường thực tế không thể thiếu, nơi sinh viên được trau dồi kinh nghiệm lâm sàng và từng bước hình thành năng lực hành nghề.

488708998-1715759352567054-3189051027680221061-n.jpg
Ảnh minh hoạ. Website Trường Đại học Y Dược Thành Phố Hồ Chí Minh.

Còn theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đậu Xuân Cảnh - nguyên Giám đốc Học viện Y Dược học Cổ truyền Việt Nam, Chủ tịch Hội Đông y Việt Nam, đội ngũ bác sĩ giữ vai trò trụ cột then chốt của hệ thống y tế, là lực lượng trực tiếp quyết định chất lượng chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân.

Đào tạo ngành Y nói chung và bác sĩ nói riêng là lĩnh vực đặc thù, đòi hỏi hệ thống tiêu chuẩn cao, đồng bộ và nghiêm ngặt. Trước hết, chương trình đào tạo cần được xây dựng theo hướng chuẩn hóa, thường xuyên cập nhật những tiến bộ của khoa học - công nghệ y học hiện đại, bảo đảm sự cân đối hợp lý giữa lý thuyết và thực hành lâm sàng.

Đồng thời, chương trình đào tạo không chỉ dừng lại ở việc trang bị kiến thức chuyên môn mà còn phải chú trọng rèn luyện y đức, kỹ năng giao tiếp, khả năng làm việc nhóm và tư duy phản biện cho người học.

Bên cạnh đó, đội ngũ giảng viên là một trong những yếu tố then chốt, có vai trò quyết định đến chất lượng đào tạo. Giảng viên ngành Y không chỉ cần có nền tảng chuyên môn vững vàng, trình độ sau đại học, mà còn phải sở hữu kinh nghiệm thực tiễn lâm sàng, năng lực sư phạm và tinh thần trách nhiệm cao.

Đối với cơ sở vật chất, đào tạo bác sĩ đòi hỏi hệ thống phòng thí nghiệm, phòng thực hành, trung tâm mô phỏng, thư viện, trang thiết bị y tế và các bệnh viện thực hành đạt chuẩn. Việc đầu tư đầy đủ, đồng bộ và hiện đại cho cơ sở vật chất không chỉ phục vụ hiệu quả công tác đào tạo mà còn góp phần hình thành tác phong chuyên nghiệp, chuẩn mực nghề nghiệp cho sinh viên ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường.

Khi tính mạng người bệnh đặt trong tay bác sĩ, các yêu cầu đối với sinh viên y khoa cần được đặt ở mức cao, bao gồm năng lực thể chất, tri thức nền tảng, kiến thức chuyên môn y khoa, kỹ năng nghề nghiệp, cũng như văn hóa và đạo đức nghề nghiệp. Những yêu cầu này cần được lượng hóa và đánh giá thông qua một bộ tiêu chuẩn quốc gia thống nhất, làm căn cứ bảo đảm chất lượng đầu vào, quá trình đào tạo và đầu ra.

Chỉ khi bảo đảm đồng bộ cả bốn yếu tố là chương trình đào tạo, đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất, người học cùng được đặt trong một hệ chuẩn kiến thức và năng lực quốc gia thì công tác đào tạo ngành Y nói chung và bác sĩ nói riêng mới thực sự đáp ứng yêu cầu bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong giai đoạn mới.

Cũng theo thầy Cảnh, việc đào tạo ngành Y hiện nay được mở rộng là xu hướng tất yếu, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng gia tăng về nhân lực y tế của xã hội. Tuy nhiên, sự khác biệt về nền tảng, kinh nghiệm và điều kiện đào tạo giữa các loại hình cơ sở giáo dục này chắc chắn tạo ra những tác động nhất định đến chất lượng nguồn nhân lực khi tham gia vào hệ thống y tế.

Đối với các cơ sở đào tạo chuyên ngành y, đặc biệt là những trường có bề dày truyền thống, lợi thế nổi bật nằm ở hệ sinh thái đào tạo đồng bộ và chuyên sâu. Chương trình đào tạo tại các trường này thường được xây dựng, điều chỉnh và hoàn thiện qua nhiều thế hệ. Đồng thời, đội ngũ giảng viên không chỉ làm công tác giảng dạy mà còn trực tiếp tham gia khám, chữa bệnh mà còn có hệ thống bệnh viện thực hành và cơ sở lâm sàng gắn bó chặt chẽ, lâu dài với nhà trường.

Trong khi đó, các trường đại học đa ngành khi tham gia đào tạo Y khoa cũng sở hữu những lợi thế nhất định. Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất của mô hình này thường nằm ở kinh nghiệm tổ chức đào tạo y khoa mang tính đặc thù, nhất là trong khâu đào tạo và tổ chức thực hành lâm sàng; sự thiếu hụt đội ngũ giảng viên cơ hữu có kinh nghiệm khám, chữa bệnh; cũng như việc chưa xây dựng được hệ thống bệnh viện thực hành đạt chuẩn, gắn kết chặt chẽ và ổn định với nhà trường trong dài hạn.

"Chất lượng nhân lực bác sĩ không phụ thuộc vào tên gọi hay loại hình cơ sở đào tạo, mà cốt lõi nằm ở mức độ tuân thủ nghiêm ngặt các chuẩn đào tạo ngành Y. Từ yêu cầu đối với sinh viên đầu vào, chương trình đào tạo, đội ngũ giảng viên, điều kiện cơ sở vật chất đến tổ chức thực hành lâm sàng, tất cả đều cần được đặt trong một hệ chuẩn thống nhất. Chỉ khi đó, nguồn nhân lực bác sĩ được đào tạo mới thực sự đáp ứng yêu cầu phát triển của hệ thống y tế và kỳ vọng của xã hội", thầy Cảnh chia sẻ.

Cần tiếp tục chuẩn hóa và siết chặt đào tạo bác sĩ

Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Bác sĩ Đỗ Văn Dũng, công tác đào tạo ngành Y cần được kiểm soát nghiêm ngặt không chỉ ở chuẩn đầu ra mà ngay từ khâu tuyển sinh đầu vào. Việc tuyển sinh tràn lan, chất lượng đầu vào thấp và vượt quá năng lực đào tạo thực tế dễ dẫn đến tình trạng “lạm phát bằng cấp”, kéo theo sự hình thành một đội ngũ bác sĩ thiếu năng lực hành nghề.

Trong bối cảnh đó, các “chốt chặn” kiểm soát chất lượng như kỳ thi đánh giá năng lực hành nghề tuy cần thiết nhưng không thể được xem là giải pháp toàn diện. Chất lượng của một bác sĩ là kết quả của cả một quá trình đào tạo dài hạn, bền bỉ và nghiêm ngặt, chứ không thể chỉ được quyết định bởi một kỳ thi duy nhất. Nếu chỉ siết chặt khâu đầu ra mà buông lỏng đầu vào, xã hội sẽ phải đối mặt với sự lãng phí nguồn lực rất lớn, khi nhiều sinh viên dành sáu năm học tập nhưng cuối cùng không đủ điều kiện để hành nghề.

Dù điểm tuyển sinh không phải là yếu tố duy nhất quyết định sự thành công của người học, song đây vẫn là thước đo quan trọng phản ánh năng lực tư duy, khả năng học tập và tính kỷ luật - những phẩm chất thiết yếu để tiếp thu và làm chủ khối lượng kiến thức khổng lồ của ngành Y.

Đào tạo bác sĩ là lĩnh vực đặc thù, đòi hỏi sự hội tụ của đội ngũ giảng viên tinh hoa, năng lực quản trị đào tạo bài bản và hệ thống cơ sở vật chất đạt chuẩn.

Đồng thời, các cơ sở đào tạo ngành Y cần có bệnh viện thực hành. Đây là nơi những kiến thức lý thuyết vốn mang tính trừu tượng được chuyển hóa thành năng lực hành nghề thực tiễn, đồng thời giữ vai trò quyết định trong việc hình thành bản lĩnh nghề nghiệp và đạo đức của người thầy thuốc.

Đặc biệt, một bệnh viện thực hành đạt chuẩn cần hội tụ đầy đủ ba yếu tố cốt lõi: Có lưu lượng bệnh nhân đa dạng, bao quát đầy đủ các nhóm bệnh và mặt bệnh phù hợp với chương trình đào tạo; Đội ngũ bác sĩ hướng dẫn vững vàng về chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm y học bài bản, đủ năng lực kèm cặp, đánh giá và uốn nắn sinh viên trong quá trình thực hành; Hệ thống quản lý đào tạo nghiêm túc, chặt chẽ nhằm giám sát, kiểm soát và bảo đảm chất lượng toàn bộ quá trình thực hành lâm sàng.

Bên cạnh đó, cơ sở vật chất và trang thiết bị tại bệnh viện thực hành phải được đầu tư hiện đại, đồng bộ, tạo điều kiện để sinh viên được trực tiếp quan sát, tham gia hỗ trợ và rèn luyện kỹ năng chuyên môn dưới sự hướng dẫn và kiểm soát chặt chẽ. Qua đó, bảo đảm mỗi bác sĩ khi tốt nghiệp đều có đủ năng lực thực hành, sự tự tin và tính chính xác cần thiết, đáp ứng yêu cầu an toàn người bệnh khi trực tiếp tham gia hoạt động khám, chữa bệnh.

ai7i2526-1.jpg
Ảnh minh hoạ. VNU

Còn theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đậu Xuân Cảnh, bệnh viện thực hành giữ vai trò đặc biệt quan trọng, có thể xem là “trái tim” của quá trình đào tạo. Nếu giảng đường là nơi hình thành nền tảng tri thức thì bệnh viện chính là môi trường giúp người học chuyển hóa kiến thức thành kỹ năng nghề nghiệp, thái độ nghề nghiệp và y đức. Chất lượng đào tạo bác sĩ, dược sĩ hay cán bộ y tế phụ thuộc rất lớn vào chất lượng và tính thực chất của hoạt động thực hành tại bệnh viện.

Để tham gia đào tạo một cách hiệu quả, bệnh viện thực hành cần đáp ứng một số tiêu chí cơ bản như đạt bệnh viện thứ hạng cao như hạng 1 trở lên trong tiêu chuẩn phân hạng của Bộ Y tế. Đồng thời, bệnh viện phải có quy mô và cơ cấu chuyên khoa phù hợp, đủ số lượng bệnh nhân và loại hình bệnh tật để sinh viên có cơ hội học tập, rèn luyện toàn diện.

Bên cạnh đó, cần có đội ngũ bác sĩ, cán bộ y tế đủ trình độ chuyên môn, có kỹ năng sư phạm và tinh thần sẵn sàng tham gia công tác đào tạo, coi đào tạo là một nhiệm vụ quan trọng song hành với khám chữa bệnh.

Ngoài ra, bệnh viện phải có quy chế phối hợp chặt chẽ với cơ sở đào tạo, quy định rõ trách nhiệm, quyền hạn và nội dung hướng dẫn thực hành cho sinh viên. Đặc biệt, điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế, hệ thống quản lý chất lượng và an toàn người bệnh cũng là những yếu tố không thể thiếu.

Cũng theo thầy Cảnh, để vừa kiểm soát chặt chẽ chất lượng đào tạo bác sĩ, vừa đáp ứng nhu cầu nhân lực y tế trong trung và dài hạn, cần triển khai các giải pháp quản lý và chính sách một cách đồng bộ, thay vì những biện pháp đơn lẻ.

Trước hết, cần tiếp tục chuẩn hóa và siết chặt các điều kiện mở ngành từ chương trình, đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất đến hệ thống bệnh viện thực hành và ngưỡng kiến thức chuẩn đầu vào của sinh viên. Đặc biệt là việc triển khai hiệu quả hệ thống đánh giá kiến thức và năng nực hành nghề sinh viên y khoa ra trường của Hội đồng Y khoa Quốc gia. Việc kiểm soát này phải được thực hiện thường xuyên thông qua cơ chế kiểm định chất lượng độc lập, công khai kết quả để xã hội và người học có đầy đủ thông tin lựa chọn. Đây là cách hiệu quả để bảo vệ quyền lợi người học, tránh tình trạng đào tạo không bảo đảm chất lượng nhưng vẫn tuyển sinh.

Về lâu dài, việc giao chỉ tiêu đào tạo Y khoa nên dựa trên dự báo khoa học về nhu cầu nhân lực, tránh tình trạng vừa thiếu hụt ở tuyến cơ sở, vùng khó khăn, vừa dư thừa cục bộ ở một số lĩnh vực.

Cùng với đó, cần có chính sách phù hợp đối với giảng viên và bệnh viện tham gia đào tạo, tăng cường đầu tư, khuyến khích chuyên gia, bác sĩ giỏi tham gia giảng dạy. Việc minh bạch thông tin đào tạo và bảo đảm các chính sách hỗ trợ cần thiết cho sinh viên ngành Y cũng là yếu tố quan trọng để người học yên tâm gắn bó với nghề.

“Chỉ khi có sự phối hợp chặt chẽ giữa quản lý nhà nước, cơ sở đào tạo, cơ sở y tế và xã hội, cùng một tầm nhìn trung và dài hạn, thì công tác đào tạo Y khoa mới vừa bảo đảm chất lượng, vừa đáp ứng nhu cầu nhân lực y tế, qua đó phục vụ tốt nhất cho sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân”, thầy Cảnh chia sẻ.

Thu Trang