Tại buổi gặp gỡ các nhà khoa học trẻ, đầu ngành thuộc chương trình VNU350, Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thị Thanh Mai - Giám đốc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh chia sẻ, các tiến sĩ của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh sẽ có một năm làm việc tại doanh nghiệp hoặc tu nghiệp nước ngoài sau mỗi 5 năm để không "lệch pha" với thị trường.
5 hiệu quả thiết thực khi đưa tiến sĩ ra doanh nghiệp hoặc tu nghiệp ở nước ngoài
Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh là cơ sở đầu tiên công bố triển khai cơ chế này đối với các giảng viên có trình độ tiến sĩ sau mỗi 5 năm. Theo góc nhìn của nhiều chuyên gia, việc đưa tiến sĩ tham gia làm việc tại phòng thí nghiệm, trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D) của doanh nghiệp hoặc các viện nghiên cứu, đại học uy tín trên thế giới sau mỗi 5-7 năm công tác tạo điều kiện để đội ngũ giảng viên kịp thời nắm bắt xu hướng thị trường, sự vận động của các ngành nghề cũng như bối cảnh kinh tế - sản xuất, qua đó tích lũy thêm kinh nghiệm thực tiễn, làm nền tảng nâng cao chất lượng giảng dạy và nghiên cứu khi trở lại môi trường học thuật.
Bày tỏ quan điểm ủng hộ với định hướng trên, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thiện Tống - chuyên gia đầu ngành Kỹ thuật hàng không của Việt Nam; nguyên Chủ nhiệm bộ môn Kỹ thuật hàng không, Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh; hiện là Trưởng ngành Kỹ thuật Hàng không, Trường Đại học Văn Lang cho rằng, đây là một giải pháp đột phá để phát triển đội ngũ giảng viên, nhà khoa học trình độ tiến sĩ vừa làm việc trong ngành giáo dục, vừa trau dồi, cống hiến ở ngành, lĩnh vực khác.
Điều này không chỉ kiến tạo môi trường học thuật cởi mở, thuận lợi hơn, mà còn là đòn bẩy thúc đẩy giảng viên bước ra khỏi tháp ngà biệt lập để mở rộng tầm nhìn chuyên môn. Khi nguồn chất xám này trực tiếp tham gia tư vấn chiến lược cho các tổ chức doanh nghiệp hoặc trung tâm nghiên cứu và phát triển, sự cộng hưởng lợi ích giữa hai phía sẽ tạo nên gia tốc cực đại, thúc đẩy phát triển quốc gia bứt phá mạnh mẽ.
Hiện nay, hệ thống giáo dục đại học vẫn tồn tại một số hạn chế, còn có sự tách rời giữa nhiệm vụ đào tạo với nhu cầu của doanh nghiệp. Việc thiếu liên kết về mặt hữu cơ này có thể ảnh hưởng tới hiệu quả trong nghiên cứu khoa học, ngày càng dẫn đến khoảng cách lớn giữa đôi bên, thậm chí làm giảm lòng tin từ phía đối tác liên kết của các trường đại học. Lâu nay, các giảng viên thường tập trung nhiều vào công bố bài báo khoa học đơn lẻ, kết quả ứng dụng nghiên cứu còn hạn chế khi trở thành sản phẩm đi vào đời sống.
Ở một số trường hợp, trường đại học đề xuất hướng nghiên cứu nhưng đề tài chưa thực sự gắn với nhu cầu và bài toán cụ thể của doanh nghiệp. Ngay cả đối với đội ngũ tiến sĩ được đào tạo tại các cơ sở uy tín ở nước ngoài, quá trình làm việc kéo dài trong điều kiện còn hạn chế trong nước cũng đặt ra yêu cầu phải thường xuyên tham gia tu nghiệp hay tiếp cận môi trường thực tiễn, nhằm cập nhật tri thức, tránh nguy cơ tụt hậu so với mặt bằng chung của giới học thuật quốc tế.
Vốn là công thức thành công của nhiều nước phát triển nền giáo dục trên thế giới, việc giảng viên tạm rời bục giảng để ra doanh nghiệp làm việc là một mô hình không mới. Tại Singapore, nếu đáp ứng đủ điều kiện, các trường đại học luôn khuyến khích, động viên, yêu cầu đội ngũ giảng viên, nhà nghiên cứu tham gia làm việc tại doanh nghiệp, thậm chí thành lập, điều hành tổ chức. Điều này nhằm nâng cao hiệu quả công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học, hơn nữa có thể đem lại nguồn thu tài chính thêm, tác động trở lại hỗ trợ cho nhà trường.
Ở Việt Nam, việc đưa giảng viên ra doanh nghiệp hoặc các trường, viện nước ngoài đem đến những thuận lợi nhất định. Một là giúp xây dựng cơ sở kiến thức lý thuyết gắn liền với thực tiễn, từ đó nội dung giảng dạy có thể giải quyết nhiều vấn đề cụ thể mà nhu cầu xã hội đặt ra. Hai là tăng cường đổi mới sáng tạo. Xét về mặt ngược lại, khi nhà khoa học làm việc ở các môi trường khác nhau, họ có cơ hội tiếp cận những xu hướng, công nghệ và kỹ năng mới, giúp nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học trong trường đại học.
Ba là góp phần củng cố mối liên kết giữa giáo dục và doanh nghiệp. Bốn là tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao. Giảng viên trình độ tiến sĩ có thể truyền đạt kinh nghiệm thực tế, kiến thức chuyên sâu cho sinh viên, giúp các thế hệ người học được trang bị không chỉ về kiến thức lý thuyết, mà còn về kỹ năng thực hành và tư duy sáng tạo. Năm là thúc đẩy sự phát triển của xã hội và đất nước, tránh lãng phí “chất xám” của đội ngũ trí thức, tác động tích cực đến sự phát triển toàn diện của từng ngành, từng lĩnh vực, thúc đẩy nền kinh tế và trình độ khoa học công nghệ ở nước ta.
Cần môi trường làm việc tương xứng và cơ chế nhân sự phù hợp sau khi quay về bục giảng
Song, quá trình triển khai định hướng này cũng đặt ra một số thách thức cần được cân nhắc thấu đáo. Từ góc độ khung pháp lý và các quy định hiện hành, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thiện Tống cho hay, việc xây dựng một kế hoạch cụ thể, đồng bộ và chặt chẽ là yêu cầu cần thiết, nhằm tạo sự yên tâm cho đội ngũ giảng viên. Mục tiêu đưa giảng viên ra doanh nghiệp là nhằm tăng cường thực tiễn, nâng cao năng lực chuyên môn, để kết quả nghiên cứu gắn được với thị trường, chứ không đặt họ trước những rủi ro về mặt nhân sự.
Do đó, bài toán nhân lực tổng thể của cơ sở đào tạo cần được xem xét một cách toàn diện để bảo đảm hoạt động của các nhà trường không bị gián đoạn. Nhất là cơ chế nhân sự đối với các tiến sĩ đang đảm nhiệm vai trò quản lý, nếu tạm thời rời vị trí trong một năm thì cần phương án tổ chức nhân sự phù hợp, bảo đảm tính ổn định trong quản lý và quyền lợi chính đáng của giảng viên khi trở lại.
Ảnh minh họa: Mộc Trà.
Cùng chia sẻ về vấn đề này, đánh giá đây là một mô hình đã vận hành khá hiệu quả ở nhiều quốc gia phát triển, Tiến sĩ Đặng Nhật Minh - Kỹ sư Nghiên cứu và Phát triển Vật liệu, Ứng dụng Xử lý Mũi nhọn, Tập đoàn công nghệ CNC và các giải pháp tự động hóa ANCA (Úc) cho biết: Tại các nước như Úc, Anh, Đức, Mỹ, Trung Quốc, cơ chế hợp tác cộng sinh ba bên giữa doanh nghiệp - nhà nước - trường đại học rất rõ ràng. Trong đó, người trực tiếp thực hiện thường là nghiên cứu sinh tiến sĩ hoặc các nhà nghiên cứu sau tiến sĩ. Đội ngũ này sẽ không chỉ giỏi học thuật mà còn quen với môi trường doanh nghiệp để tăng cường kỹ năng làm việc nhóm đa chức năng, giao tiếp với người không chuyên sâu, và quan trọng nhất là tạo ra kết quả đo được bằng tiền và sản phẩm thực tế.
Khi các dự án liên kết giữa doanh nghiệp và đội ngũ của trường đại học thành công, công nghệ mới không chỉ giúp doanh nghiệp lớn mạnh mà còn kéo theo lợi thế cạnh tranh cho cả quốc gia với quy mô việc làm ổn định, nâng cao đời sống người dân, đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng GDP và vị thế công nghệ trên trường quốc tế.
Vì vậy, nếu không có chính sách rõ ràng, nguy cơ xuất hiện ngày càng nhiều thạc sĩ, tiến sĩ giấy nhưng thiếu kỹ năng thực chiến là rất lớn. Khi đó, ngay cả việc trường đại học áp dụng mức lương cao cũng khó hấp dẫn đối với các chuyên gia, giảng viên tu nghiệp ở nước ngoài quay trở về nước nếu môi trường làm việc chưa đáp ứng được yêu cầu tương xứng về điều kiện phát triển nghề nghiệp.
Nhìn chung, đối với lực lượng tiến sĩ mới tốt nghiệp, thị trường học thuật chỉ hấp thụ được một phần rất nhỏ. Tùy theo từng ngành và từng quốc gia, chỉ khoảng một phần ít trong số đó mới tham gia vị trí học thuật lâu dài. Trong khi đa số phần lớn còn lại buộc dịch chuyển sang khu vực công nghiệp hoặc các ngành nghề khác. Vấn đề thực ra không nằm ở chất lượng tiến sĩ, mà nằm ở mục đích đào tạo. Chương trình đào tạo tiến sĩ gần như chuẩn bị cho con đường làm giảng viên và nghiên cứu thuần túy. Khi chương trình đào tạo chỉ được thiết kế gần như hoàn toàn cho con đường hàn lâm, thì sự lệch pha với đời sống, rơi vào tháp ngà học thuật là điều khó tránh khỏi.
Do đó, việc đưa tiến sĩ ra môi trường doanh nghiệp là cần thiết, nhằm bảo đảm rằng các nghiên cứu khoa học không tách rời thực tiễn, mà hướng tới giải quyết những vấn đề cụ thể của đời sống xã hội. Định hướng mới mở ra hành lang pháp lý rõ ràng, đảm bảo quyền lợi cho tiến sĩ khi đi học hỏi, nâng cao chuyên môn, sẵn sàng chấp nhận dấn thân, thử thách và được khuyến khích, ưu tiên khi tham gia khóa học kỹ năng, xét duyệt đề tài, kinh phí nghiên cứu, thu nhập.
Đánh giá đây là giải pháp phù hợp và có tính khả thi, giúp đội ngũ tiến sĩ kịp thời cập nhật thị trường, tích lũy kinh nghiệm thực tiễn hay tiếp tục hoạt động nghiên cứu tiệm cận trình độ quốc tế, theo ý kiến của một giảng viên Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, việc tạo điều kiện để tiến sĩ tham gia làm việc tại doanh nghiệp có thể góp phần tháo gỡ những điểm nghẽn trong lĩnh vực khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ.
Khi nhà giáo trực tiếp tham gia cùng doanh nghiệp, lợi ích mang lại không chỉ dừng ở năng lực của giảng viên, mà còn đóng góp cả về phía nhà trường và người học. Cách làm này được xem là mô hình tối ưu nhằm tăng cường tính thực tiễn, hạn chế xu hướng hàn lâm hóa trong đào tạo, đồng thời tạo thuận lợi cho hoạt động chuyển giao công nghệ và định hướng phát triển sản phẩm khoa học.
Theo đó, đối với tiến sĩ thuộc nhóm chuyên theo đuổi nghiên cứu ứng dụng, việc tham gia doanh nghiệp có thể giúp giải quyết các bài toán thực tiễn. Trong khi đó, những giảng viên trình độ tiến sĩ thiên về nghiên cứu lý thuyết có thể lựa chọn hình thức tu nghiệp với các trường đại học, viện nghiên cứu hợp tác ở nước ngoài để tiếp tục nâng cao trình độ chuyên môn.
Ở góc độ người học, sinh viên được hưởng lợi từ việc rút ngắn khoảng cách giữa giảng đường và môi trường sản xuất, kinh doanh thông qua những kinh nghiệm thực tế mà giảng viên tích lũy được. Cơ chế này mở ra thêm cơ hội hợp tác, triển khai các dự án nghiên cứu quy mô lớn cho cơ sở đào tạo. Tuy nhiên, để bảo đảm hiệu quả, các nội dung liên quan đến đối tượng được tham gia, điều kiện cam kết, quy trình xét duyệt cũng như thời gian thực hiện cần được quy định cụ thể, rõ ràng.