Nhiều lợi thế trong đào tạo ngành Hộ sinh khi trường đại học y dược có bệnh viện trực thuộc

15/02/2026 06:25
Yên Đan

GDVN - CSGDĐH cần hiểu rõ công việc thực tế của một hộ sinh trong bệnh viện mới có thể xây dựng chương trình đào tạo sát yêu cầu thực tiễn.

So với nhiều ngành thuộc khối khoa học sức khỏe, số lượng cơ sở đào tạo Hộ sinh hiện vẫn còn hạn chế, trong khi nhu cầu nhân lực tại các bệnh viện, cơ sở khám chữa bệnh và tuyến y tế cơ sở ngày càng gia tăng. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với các trường đại học trong việc xây dựng chương trình đào tạo bài bản, tăng cường thực hành lâm sàng, bảo đảm chuẩn đầu ra sát với thực tiễn nghề nghiệp.

Cần tạo điều kiện thực hành để sinh viên ngành Hộ sinh nâng cao tay nghề

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Tiến sĩ Nguyễn Thị Lan Anh - Trưởng khoa Điều dưỡng - Hộ sinh, Trường Đại học Y Hà Nội kiêm Trưởng phòng Điều dưỡng, Bệnh viện Bạch Mai nhận định, trong hệ thống y tế, hộ sinh giữ một vai trò đặc biệt quan trọng nhưng lại chưa được xã hội nhìn nhận đầy đủ. Trên thực tế, khi nhắc đến lĩnh vực chăm sóc sức khỏe sinh sản, nhiều người thường nghĩ ngay đến bác sĩ sản khoa, trong khi đó, hộ sinh mới là lực lượng trực tiếp theo dõi và đồng hành cùng sản phụ trong suốt quá trình chuyển dạ.

b6040bba-3fad-43c8-bd51-cbf19e6ad7de.jpg
Tiến sĩ Nguyễn Thị Lan Anh - Trưởng khoa Điều dưỡng - Hộ sinh, Trường Đại học Y Hà Nội.
Ảnh: website nhà trường

Từ thời điểm người mẹ bắt đầu có dấu hiệu sinh cho đến khi em bé chào đời an toàn và được chăm sóc ban đầu, hộ sinh là người túc trực, quan sát liên tục, đánh giá diễn tiến chuyển dạ, theo dõi tim thai, tình trạng của mẹ và kịp thời phát hiện những dấu hiệu bất thường để báo bác sĩ can thiệp khi cần thiết. Với các ca sinh thường, hộ sinh gần như đảm nhiệm toàn bộ quá trình chuyên môn, trong khi bác sĩ sản khoa chủ yếu xử lý những trường hợp có biến chứng hoặc cần phẫu thuật.

“Điều đáng nói, chính vì đảm nhận vai trò ‘gác cửa’ trong phòng sinh nên đòi hỏi hộ sinh không chỉ thuần thục kỹ thuật đỡ đẻ mà còn có khả năng nhận định lâm sàng, xử trí ban đầu và phối hợp hiệu quả trong nhóm chăm sóc. Bởi, một sai sót nhỏ trong đánh giá có thể dẫn đến những hệ lụy nghiêm trọng đối với cả mẹ và trẻ sơ sinh. Từ thực tế đó, tôi cho rằng việc đào tạo hộ sinh ở trình độ đại học là yêu cầu tất yếu nhằm bảo đảm chuẩn năng lực và nâng cao chất lượng dịch vụ y tế.

Hiện nay, nhiều trường đại học đa ngành cũng tham gia đào tạo hộ sinh, góp phần mở rộng cơ hội học tập cho người học. Tuy nhiên, theo tôi, các trường đại học y dược vẫn có lợi thế rõ rệt hơn. Bởi, đây là những cơ sở đào tạo chuyên sâu trong lĩnh vực sức khỏe, nơi quy tụ đầy đủ các ngành như bác sĩ, điều dưỡng, hộ sinh và nhiều chuyên ngành y khoa khác, tạo nên một hệ sinh thái đào tạo đồng bộ và gắn kết.

Ngoài ra, Trường Đại học Y Hà Nội có Bệnh viện Đại học Y Hà Nội trực thuộc, giúp tạo điều kiện cho sinh viên chủ động thực hành lâm sàng, trau dồi, rèn luyện liên tục trong môi trường phòng sinh thực tế. Chính sự gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo và thực hành lâm sàng giúp sinh viên hiểu rõ vai trò của mình trong khâu chăm sóc sản khoa, đồng thời rèn luyện bản lĩnh nghề nghiệp trong môi trường áp lực cao. Đây là lợi thế nổi bật của các trường đại học y dược có bệnh viện trực thuộc.

Chính sự đồng bộ từ đội ngũ giảng viên chuyên môn sâu, hệ thống bệnh viện thực hành trực thuộc đến chương trình đào tạo bám sát yêu cầu nghề nghiệp đã tạo nên lợi thế nổi trội của các trường y dược. Đây là yếu tố mà các trường đa ngành, nếu không có nền tảng và môi trường thực hành tương đương sẽ khó đạt được ở cùng mức độ chuyên sâu và tính thực tiễn”, Tiến sĩ Nguyễn Thị Lan Anh bày tỏ.

Theo Tiến sĩ Nguyễn Thị Lan Anh, các trường muốn xây dựng chương trình ngành Hộ sinh hiệu quả thì trước hết phải hiểu rõ công việc thực tế của hộ sinh trong bệnh viện. Trong đó, chuẩn đầu ra cho sinh viên không thể xây dựng một cách chung chung, mà phải trả lời được câu hỏi: sinh viên ra trường sẽ làm gì, chịu trách nhiệm đến đâu và cần những năng lực nào để bảo đảm an toàn cho mẹ và bé. Nếu không nắm rõ đặc thù công việc trong phòng sinh, các cơ sở đào tạo rất khó thiết kế chương trình sát thực tiễn và đáp ứng đúng yêu cầu của hệ thống y tế.

Trên thực tế, sinh viên ngành Hộ sinh không chỉ được dạy kỹ thuật đỡ đẻ, mà phải chú trọng khả năng theo dõi chuyển dạ, phát hiện sớm dấu hiệu bất thường và phối hợp hiệu quả với bác sĩ khi có biến chứng. Ngoài ra, sinh viên phải được rèn luyện kỹ năng lâm sàng, tư duy xử trí tình huống và tinh thần làm việc nhóm, bởi đây là môi trường có áp lực cao và liên quan trực tiếp đến tính mạng con người.

“Trong bối cảnh nhu cầu chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em ngày càng gia tăng cả về số lượng lẫn yêu cầu chất lượng, việc đầu tư cho ngành Hộ sinh cần được các cơ sở giáo dục đại học nhìn nhận như một chiến lược phát triển lâu dài, thay vì chỉ là mở thêm một ngành đào tạo. Trước hết, các cơ sở đào tạo phải bảo đảm chương trình học sát thực tiễn, chuẩn đầu ra rõ ràng và đủ năng lực đáp ứng yêu cầu chuyên môn tại bệnh viện.

Song song với đó, trường cần quan tâm nâng cao vị thế nghề nghiệp của hộ sinh thông qua truyền thông đúng vai trò, cũng như đề xuất cơ chế, chính sách đãi ngộ tương xứng với trách nhiệm nghề nghiệp. Khi có sự đồng bộ từ khâu đào tạo, chuẩn hóa năng lực đến sử dụng và đãi ngộ nhân lực, ngành Hộ sinh mới có thể phát huy đầy đủ vai trò của mình trong hệ thống y tế, góp phần bảo đảm an toàn và chất lượng cho mỗi ca sinh”, Tiến sĩ Lan Anh nhấn mạnh.

Đồng quan điểm trên, Tiến sĩ, Bác sĩ Nguyễn Thị Hồng - Trưởng Bộ môn Phụ sản, Trường Đại học Y - Dược (Đại học Thái Nguyên) bày tỏ, chương trình đào tạo ngành Hộ sinh được xây dựng theo định hướng ứng dụng, bám sát chuẩn năng lực nghề nghiệp và nhu cầu thực tiễn tại các cơ sở y tế, trong đó thực hành giữ vai trò trọng tâm. Trong 4 năm học, sinh viên được trang bị kiến thức từ cơ sở ngành đến các học phần chuyên sâu như chăm sóc trước sinh, trong sinh và sau sinh; sản phụ khoa; sức khỏe sinh sản;... Điểm nổi bật trong chương trình đào tạo của nhà trường là tỷ lệ tín chỉ thực hành chiếm phần lớn, nhiều học phần có số tín chỉ thực hành gấp 3-4 lần lý thuyết, thậm chí có môn gần như hoàn toàn dành cho thực hành.

Đặc biệt, sinh viên được rèn kỹ năng tại phòng thực hành mô phỏng trước khi tham gia thực hành lâm sàng tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên và các bệnh viện tuyến tỉnh. Trong quá trình này, các em trực tiếp theo dõi thai kỳ, hỗ trợ và thực hiện đỡ đẻ thường dưới sự giám sát chuyên môn, chăm sóc mẹ và trẻ sơ sinh sau sinh, tư vấn sức khỏe sinh sản và thực hiện một số kỹ thuật trong phạm vi cho phép của hộ sinh.

Bên cạnh kiến thức và kỹ năng chuyên môn, chương trình cũng chú trọng rèn luyện đạo đức nghề nghiệp, kỹ năng giao tiếp, làm việc nhóm và xử lý tình huống trong môi trường áp lực cao. Với cấu trúc đào tạo như vậy, sinh viên tốt nghiệp ngành Hộ sinh cơ bản có đủ năng lực làm việc tại các cơ sở y tế, đồng thời có thể học tiếp để nâng cao trình độ và mở rộng cơ hội nghề nghiệp trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em.

“Theo tôi, hộ sinh giữ vai trò chăm sóc trực tiếp trong lĩnh vực sản phụ khoa và sức khỏe sinh sản. Công việc của hộ sinh bao gồm chăm sóc phụ nữ trước sinh, trong sinh và sau sinh; theo dõi chuyển dạ; chăm sóc sức khỏe sinh sản cho vị thành niên, phụ nữ trưởng thành và cả người lớn tuổi. Hộ sinh thực hiện các y lệnh của bác sĩ, đồng thời được phép thực hiện một số kỹ thuật chuyên môn trong phạm vi cho phép như khám phụ khoa đơn giản, tư vấn và thực hiện một số biện pháp kế hoạch hóa gia đình cơ bản. Như vậy, có thể thấy, hộ sinh không chỉ là người hỗ trợ mà còn là lực lượng nòng cốt trong chăm sóc liên tục và toàn diện cho sản phụ.

Trong thời gian tới, nhà trường tiếp tục xác định thực hành là trọng tâm của chương trình đào tạo, nhằm bảo đảm sinh viên khi tốt nghiệp có đủ kỹ năng nghề nghiệp và khả năng làm việc ngay tại các cơ sở y tế. Bên cạnh đó, để nâng cao trình độ chuyên môn và mở rộng cơ hội việc làm, sinh viên có thể học tiếp lên các bậc cao hơn. Ngoài cơ hội công tác tại bệnh viện công lập và tư nhân, hộ sinh còn có thể làm việc tại các trung tâm chăm sóc mẹ và bé ngoài bệnh viện.

Từ kinh nghiệm nhiều năm gắn bó với nghề, tôi mong muốn học sinh lớp 12 khi lựa chọn ngành Hộ sinh cần cân nhắc kỹ sự phù hợp với bản thân. Đây là nghề đòi hỏi sự kiên trì, tinh thần trách nhiệm cao, khả năng chịu áp lực và trên hết là tình yêu nghề. Nếu thực sự mong muốn đồng hành trong quá trình chăm sóc sức khỏe phụ nữ và trẻ sơ sinh, đồng thời sẵn sàng làm việc trong môi trường có cường độ cao thì Hộ sinh là một lựa chọn ý nghĩa và có nhiều tiềm năng phát triển lâu dài”, cô Hồng nêu quan điểm.

Trường tư gặp khó khăn trong việc tuyển dụng giảng viên đào tạo đúng chuyên ngành Hộ sinh

Nhận thấy nhu cầu nhân lực hộ sinh ngày càng tăng cao, Đại học Phenikaa đã chính thức tuyển sinh ngành Hộ sinh đào tạo trình độ đại học từ năm 2025.

Theo Tiến sĩ Hoàng Thị Xuân Hương - Trưởng khoa Khoa Điều dưỡng, Đại học Phenikaa, hiện nay, số cơ sở đào tạo ngành này tại Việt Nam còn khá hạn chế, trong khi nhu cầu xã hội đối với nhân lực hộ sinh ngày càng lớn. Tại Đại học Phenikaa, do mới mở ngành Hộ sinh nên trường phải tham vấn các bên liên quan, đặc biệt là các bệnh viện và cơ sở sử dụng lao động, để bảo đảm chuẩn đầu ra, cấu trúc chương trình và nội dung học phần phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Trong đó, chương trình đào tạo không thể tách rời nhu cầu tuyển dụng mà phải đi song song với yêu cầu của hệ thống khám, chữa bệnh.

596387417-1459840156142986-909340880030952242-n.jpg
Tiến sĩ Hoàng Thị Xuân Hương - Trưởng khoa Khoa Điều dưỡng, Đại học Phenikaa. Ảnh: website nhà trường

Tuy nhiên, với lợi thế có bệnh viện trực thuộc là Bệnh viện Phenikaa, sinh viên ngành Hộ sinh được tạo điều kiện thực hành trong môi trường thực tế ngay từ sớm. Ngoài bệnh viện của trường, sinh viên còn được bố trí thực tập tại các bệnh viện trong hệ thống công lập như Bệnh viện Phụ sản Hà Nội, Bệnh viện Phụ sản Trung ương và các trạm y tế.

“Một trong những khó khăn lớn nhất hiện nay khi mở ngành Hộ sinh là vấn đề nhân lực giảng dạy. Do đây là ngành còn khá mới và số lượng chuyên gia được đào tạo bài bản, có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ đúng chuyên ngành Hộ sinh ở Việt Nam rất ít, nên việc tuyển dụng giảng viên phù hợp gặp nhiều trở ngại. Phần lớn giảng viên hiện nay có nền tảng từ điều dưỡng, sau đó học bổ sung về sản phụ khoa và hộ sinh, vì vậy chiều sâu chuyên biệt của ngành đôi khi chưa thực sự rõ nét. Điều này cũng kéo theo khó khăn trong việc xây dựng chương trình, biên soạn giáo trình và phát triển học liệu đặc thù cho hộ sinh, bởi tài liệu chuyên ngành do chính hộ sinh biên soạn còn hạn chế, nhiều nội dung vẫn dựa trên giáo trình của bác sĩ sản khoa.

Bên cạnh đó, do là khóa đầu tiên tuyển sinh từ năm 2025, nhà trường cũng phải song song hoàn thiện cơ sở vật chất phục vụ đào tạo, đặc biệt là hệ thống phòng thực hành, mô hình mô phỏng. Việc thiết lập và mở rộng mạng lưới cơ sở thực hành cần thời gian để thống nhất nội dung, phân công hướng dẫn và bảo đảm sinh viên được trải nghiệm đầy đủ các kỹ năng nghề nghiệp trong phạm vi hộ sinh.

Ngoài ra, nhận thức xã hội về ngành Hộ sinh còn chưa đầy đủ. Nhiều người vẫn nhầm lẫn giữa hộ sinh và bác sĩ sản khoa, hoặc chưa hiểu rõ vai trò độc lập của hộ sinh trong chăm sóc sức khỏe sinh sản. Điều này ảnh hưởng phần nào đến công tác tuyển sinh, đặc biệt khi số lượng thí sinh quan tâm đến ngành chưa nhiều so với các ngành y khoa khác. Theo tôi, để vượt qua những thách thức ban đầu này, trường cần có thời gian, sự đầu tư bài bản và chiến lược phát triển dài hạn, đặc biệt là chú trọng đào tạo đội ngũ giảng viên chuyên sâu và tăng cường truyền thông về vai trò, vị trí của ngành Hộ sinh trong hệ thống y tế”, cô Hương bày tỏ.

Do đó, để nâng cao chất lượng đào tạo ngành Hộ sinh, Tiến sĩ Hoàng Thị Xuân Hương đề xuất một số giải pháp cụ thể.

Thứ nhất, cơ sở đào tạo cần đẩy mạnh công tác truyền thông về ngành Hộ sinh nhằm thu hút người học và nâng cao nhận thức xã hội về vai trò của hộ sinh trong hệ thống y tế. Bởi, hiện nay hệ thống y tế thiếu lực lượng về lĩnh vực hộ sinh một cách trầm trọng, trong khi đây là nhân lực giữ vai trò quan trọng trong chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em.

Thứ hai, trường cần xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực hộ sinh ở tầm quốc gia, trong đó có định hướng rõ ràng về đào tạo sau đại học. Hiện Việt Nam chưa có chương trình thạc sĩ hay tiến sĩ chuyên ngành Hộ sinh, điều này khiến việc phát triển đội ngũ giảng viên và chuyên gia đầu ngành còn nhiều hạn chế.

Thứ ba, việc tăng cường hợp tác quốc tế được xem là hướng đi cần thiết trong bối cảnh hiện nay. Thông qua việc ký kết hợp tác với các đối tác nước ngoài, nhà trường có thể nhận được hỗ trợ về chuyên môn, nghiên cứu khoa học, đồng thời mở ra cơ hội học tập nâng cao cho sinh viên và giảng viên.

“Theo tôi, về lâu dài, để ngành Hộ sinh phát triển bền vững, các trường cần tập trung xây dựng đội ngũ nhân lực chất lượng cao, tạo nguồn đào tạo bài bản và từng bước khẳng định vị thế độc lập, chuyên sâu của ngành trong hệ thống y tế Việt Nam”, cô Hương nhấn mạnh.

Yên Đan