Nhiều trường đua nhau mở đào tạo Điều dưỡng khiến chất lượng nguồn nhân lực bị lệch

24/02/2026 06:29
Tường San

GDVN -Các cơ sở chuyên sâu về y dược có nhiều lợi thế về đội ngũ, cơ sở vật chất, bệnh viện thực hành và bề dày kinh nghiệm để đào tạo hiệu quả Điều dưỡng.

Trong bối cảnh nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân ngày càng gia tăng, song hành với đó là sự tăng về số lượng cơ sở đào tạo mở ngành Điều dưỡng, tuy nhiên, nhiều chuyên gia nhận định, để bảo đảm chất lượng nguồn nhân lực y tế, cơ quan quản lý giáo dục và y tế cần siết chặt điều kiện cho phép mở ngành và giám sát chặt công tác đào tạo.

Theo đó, việc kiểm soát, thẩm định và đánh giá cần được thực hiện nghiêm ngặt ngay từ khâu tuyển sinh đầu vào, năng lực thực tế của cơ sở đào tạo cho đến hệ thống cơ sở thực hành lâm sàng. Đồng thời, quá trình đào tạo cần được giám sát, đánh giá thường xuyên thay vì theo định kỳ giai đoạn nhằm bảo đảm chuẩn năng lực nghề nghiệp của Điều dưỡng viên khi tham gia thị trường lao động.

Nhiều cơ sở còn mở ngành theo trào lưu và để tăng nguồn thu, chưa chú trọng chất lượng đào tạo

Chia sẻ với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Tiến sĩ Nguyễn Đức Dương – Trưởng khoa Điều dưỡng, Trường Đại học Y khoa Vinh bày tỏ, công tác đào tạo Điều dưỡng tại Việt Nam vẫn còn tồn tại nhiều bất cập, đặc biệt trong giai đoạn dài trước đây khi hệ thống cao đẳng thuộc quản lý của một bộ, trong khi hệ thống giáo dục đại học thuộc bộ khác (hiện nay cả hai hệ đều do Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý nhà nước), dẫn tới tình trạng mở đào tạo ngành Điều dưỡng diễn ra tràn lan tại nhiều cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Việc “trường trường mở đào tạo Điều dưỡng” khiến chất lượng nguồn nhân lực “bị lệch”. Không những vậy, trên thực tế, nhiều trường đại học không chuyên vẫn mở đào tạo ngành Điều dưỡng dù ít giảng viên cơ hữu đúng chuyên môn, không có cơ sở thực hành hoặc bệnh viện trực thuộc. Điều này đã ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nguồn nhân lực, nhất là năng lực thực hành của đội ngũ điều dưỡng viên được đào tạo từ những cơ sở này.

Thầy Dương nhấn mạnh, với người học điều dưỡng, ngoài kiến thức lý thuyết, yêu cầu quan trọng là năng lực thực hành gắn chặt môi trường bệnh viện. Trong thực tế nghề nghiệp, giới chuyên môn thường quan niệm, bệnh nhân chính là “người thầy” của sinh viên ngành y, ngành điều dưỡng bởi chỉ khi được học trực tiếp trên người bệnh dưới sự hướng dẫn của giảng viên, sinh viên mới tích lũy tốt kinh nghiệm thực tiễn.

screenshot-73-8933.png
Tiến sĩ Nguyễn Đức Dương – Trưởng khoa Điều dưỡng, Trường Đại học Y khoa Vinh. Ảnh: Website nhà trường

Theo thầy Dương, các cơ sở đào tạo chuyên sâu về y dược có nhiều lợi thế về đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất, bệnh viện thực hành cũng như bề dày kinh nghiệm để đào tạo hiệu quả các ngành sức khỏe như Điều dưỡng, đặc biệt là tại các trường y dược có quy mô lớn.

Đối với các trường mới hoặc không chuyên đào tạo muốn mở đào tạo khối ngành sức khỏe, việc mở ngành phải đáp ứng đầy đủ nguồn lực về con người, cơ sở thực hành, tài chính, chương trình đào tạo đạt chuẩn, … Chỉ khi bảo đảm vận hành bài bản, những cơ sở này mới có thể đào tạo các ngành đặc thù, có yêu cầu năng lực lâm sàng cao như Điều dưỡng. Đây là những điều kiện nền tảng nhằm hình thành cho sinh viên Điều dưỡng tư duy phản biện, khả năng thích nghi và năng lực làm việc độc lập.

Riêng tại Trường Đại học Y khoa Vinh, thầy Dương thông tin, đây là cơ sở có hơn 65 năm đào tạo khối ngành sức khỏe, trong đó có truyền thống lâu năm đào tạo ngành Điều dưỡng. Nhà trường sở hữu đội ngũ giảng viên giàu kinh nghiệm, bệnh viện thực hành riêng với quy mô 150 giường bệnh; đồng thời hợp tác với nhiều bệnh viện đa khoa, chuyên khoa lớn. Nhờ đó, sinh viên có điều kiện thực hành thường xuyên, bám sát thực tế nghề nghiệp.

Mặt khác, theo thầy Dương, thực tế tại Việt Nam cho thấy, nhiều cơ sở đào tạo vẫn có xu hướng mở ngành theo trào lưu, mở rộng quy mô tuyển sinh khi nguồn thu chủ yếu phụ thuộc vào học phí. Vì vậy, không ít trường lựa chọn mở đào tạo ngành Điều dưỡng với sĩ số mỗi lớp có thể lên tới 80–90 sinh viên. Trong khi đó, tại nhiều quốc gia phát triển, đào tạo Điều dưỡng chủ yếu dựa trên nhu cầu xã hội, do đó quy mô lớp học thường chỉ khoảng 30–35 sinh viên/lớp. Trong đào tạo lâm sàng tại bệnh viện, sinh viên thường được chia nhóm nhỏ hoặc đào tạo theo hình thức kèm cặp cá nhân nhằm bảo đảm giám sát chặt chẽ quá trình học tập.

Ngược lại, với quy mô lớp học đông tại Việt Nam, việc thực hành thường vào khoảng 8–20 sinh viên trong một buồng bệnh, gây khó khăn cho giảng viên trong việc theo dõi và đánh giá năng lực từng người học.

Với 7 năm học tập tại Thái Lan, thầy Dương cho biết thêm, điều dưỡng viên tại quốc gia này có mức độ tự chủ nghề nghiệp cao, gần như làm quản lý nhiều hoạt động tại khoa, phòng của mình, từ nhân sự đến trang thiết bị. Do đó, mô hình đào tạo cũng có nhiều điểm khác so với Việt Nam, trong đó sinh viên Điều dưỡng được rèn luyện tính chủ động, độc lập nhiều hơn. Ngành Điều dưỡng tại quốc gia này cũng phần lớn được đào tạo tại các cơ sở có truyền thống lâu đời trong lĩnh vực y dược.

Đầu tư mọi nguồn lực để đào tạo ngành Điều dưỡng không phải đơn giản

Cùng trao đổi về vấn đề này, thầy Lê Tấn Cường - Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Y tế Bà Rịa – Vũng Tàu cho rằng, hiện nay hầu hết các địa phương đều có trường cao đẳng y tế – những cơ sở chuyên đào tạo nhân lực Điều dưỡng.

So với các trường đa ngành, các cơ sở chuyên đào tạo nhân lực y tế thường có lợi thế lớn hơn về chất lượng đào tạo do bảo đảm được đội ngũ giảng viên đúng chuyên môn, đủ về số lượng, mạnh về chất lượng, đặc biệt là về đội ngũ giảng viên cơ hữu. Trong khi đó, các cơ sở đào tạo đa ngành thường phải phụ thuộc nhiều vào đội ngũ giảng viên thỉnh giảng nên khó duy trì sự ổn định chất lượng trong đào tạo.

Theo thầy Cường, đào tạo lĩnh vực y tế đòi hỏi hệ thống cơ sở vật chất, trang thiết bị chuyên ngành rất tốn kém và cần được đầu tư bài bản. Trên thực tế, việc đầu tư cho đào tạo nhân lực y tế, trong đó có ngành Điều dưỡng, đòi hỏi cơ sở đào tạo phải có nguồn lực tài chính đủ mạnh để đầu tư đồng bộ và đầy đủ.

Đối với các trường cao đẳng y tế công lập, thường cơ sở vật chất, trang thiết bị chuyên ngành luôn được nhà nước quan tâm và đầu tư mạnh; còn với những trường đa ngành thì việc đầu tư này lại không hề đơn giản. Đáng nói, nếu đầu tư không đúng, chất lượng đào tạo sẽ không được bảo đảm; còn nếu đầu tư đúng và đủ, hiệu quả kinh tế lại không cao.

z5982307497565-feaba78a50f830e3e8248b0d272a8162.jpg
Thầy Lê Tấn Cường - Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Y tế Bà Rịa – Vũng Tàu

Bên cạnh đó, đào tạo nhân lực Điều dưỡng cũng đòi hỏi nguồn nhân lực giảng dạy ở nhiều chuyên môn, bởi trong chương trình đào tạo, sinh viên không chỉ học Điều dưỡng mà còn học Dược, bệnh học, sức khỏe sinh sản… Do đó, nhà trường cần có cả giảng viên Dược, bác sĩ ở nhiều chuyên khoa khác nhau để bảo đảm đào tạo đầy đủ và đúng chuẩn cho sinh viên Điều dưỡng.

Ngoài ra, các trường cao đẳng y tế công lập thường gắn chặt với hệ thống y tế địa phương, đặc biệt là liên kết chặt chẽ với các bệnh viện công lập và cơ sở y tế tuyến tỉnh, tuyến huyện. Nhờ mối liên kết này, việc tổ chức đào tạo kỹ năng Điều dưỡng lâm sàng cho sinh viên thuận lợi hơn, giúp người học được tiếp cận môi trường thực hành thực tế ngay trong quá trình học tập.

“Chúng ta không cấm các cơ sở không chuyên đào tạo những ngành thuộc khối sức khỏe như Điều dưỡng. Tuy nhiên, trên thực tế, nếu tham gia đào tạo, nhiều cơ sở như vậy sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc bảo đảm chất lượng do liên quan đến những vấn đề về tài chính, đội ngũ và cơ sở vật chất. Đặc biệt, số cơ sở đa ngành có thể xây dựng được cơ sở khám chữa bệnh hoặc bệnh viện thực hành trực thuộc trường là rất ít. Trong khi đó, các cơ sở đào tạo chuyên ngành y tế thường có phòng khám hoặc bệnh viện thực hành riêng, qua đó tạo điều kiện thuận lợi hơn trong tổ chức đào tạo thực hành cho sinh viên.

Còn theo Tiến sĩ Trần Văn Oánh – Trưởng phòng Điều dưỡng Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, đồng thời là Trưởng bộ môn Điều dưỡng Trường Cao đẳng Y tế và Thiết bị Việt Đức, dù là cơ sở đào tạo chuyên ngành hay không chuyên ngành về khối sức khỏe, nếu muốn đào tạo những ngành như Điều dưỡng đều phải bảo đảm đầy đủ điều kiện, được đầu tư bài bản ngay từ giai đoạn đầu. Do đó, vai trò và trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền mang tính quyết định, đặc biệt trong khâu thẩm định điều kiện mở ngành, cho phép đào tạo đối với những cơ sở bảo đảm đủ nguồn lực, có đầu tư bài bản và có cơ sở thực hành riêng. Việc quản lý cần được thực hiện đồng bộ từ khâu thẩm định chuyên môn, tổ chức đào tạo đến giám sát quá trình thực hiện, trong đó chất lượng đầu ra là thước đo cuối cùng.

Trong đó, chất lượng đầu vào được sàng lọc tốt sẽ là yếu tố có khả năng dự báo cao đối với chất lượng đầu ra của sinh viên. Bên cạnh đó, các cơ sở đào tạo bảo đảm đội ngũ giảng viên đúng chuyên môn, hệ thống phương tiện đào tạo, cơ sở vật chất, trang thiết bị và hệ thống cơ sở thực hành nghề đạt chuẩn cũng sẽ góp phần dự báo tích cực đối với kết quả đầu ra. Tóm lại, việc đào tạo nguồn nhân lực Điều dưỡng chất lượng cao đòi hỏi sự đồng bộ của cả ba yếu tố này.

z5964307493347-3c6bcb188c62835ea1afb9bd2073d012.jpg
Tiến sĩ Trần Văn Oánh (ngoài cùng bên phải) trong một buổi hướng dẫn sinh viên thực hành. Ảnh: NVCC

Từ thực tiễn công tác trực tiếp tại bệnh viện, Tiến sĩ Oánh cho rằng, nếu người học được đào tạo từ những cơ sở có chất lượng tốt thì năng lực nghề nghiệp sau tốt nghiệp tất yếu cũng sẽ được bảo đảm hơn. Ngược lại, nếu có cơ sở đào tạo để sinh viên không bảo đảm chất lượng và năng lực nhưng vẫn được tốt nghiệp, thị trường lao động và các cơ sở y tế tất yếu sẽ sàng lọc tự nhiên những nhân lực này, qua đó bảo đảm chất lượng nguồn nhân lực phục vụ hệ thống y tế.

Tường San