Dự kiến nới tuyển vượt, siết điều kiện chất lượng: Cơ sở giáo dục đại học nói gì?

16/02/2026 06:28
Doãn Nhàn

GDVN -Dự thảo cho thấy xu hướng quản lý chỉ tiêu tuyển sinh theo hướng gắn chặt hơn với chất lượng đội ngũ giảng viên, hiệu quả đầu ra của từng ngành đào tạo.

Dự thảo Thông tư quy định việc xác định số lượng tuyển sinh các trình độ của giáo dục đại học và trình độ cao đẳng ngành Giáo dục Mầm non đang thu hút sự quan tâm của các cơ sở đào tạo khi đưa ra hàng loạt điều chỉnh liên quan trực tiếp đến cách tính chỉ tiêu, điều kiện bảo đảm chất lượng và cơ cấu đội ngũ giảng viên,...

So với Thông tư ban hành năm 2022 (điều chỉnh năm 2023), dự thảo lần này cho thấy xu hướng quản lý chặt hơn theo hướng gắn chỉ tiêu với năng lực đào tạo thực chất. Đáng chú ý, nếu trước đây chỉ tiêu chủ yếu được xác định theo lĩnh vực đào tạo, thì nay thu hẹp cách tiếp cận này và mở rộng các trường hợp phải xác định theo từng ngành, nhóm ngành cụ thể.

Biên độ tuyển sinh vượt chỉ tiêu cũng được nới rộng. Theo đó, số lượng thí sinh nhập học thực tế được phép vượt tối đa 5% ở trình độ đại học và 20% ở trình độ thạc sĩ, tiến sĩ, với điều kiện vẫn bảo đảm năng lực đào tạo. Đồng thời, dự thảo bổ sung “rào cản kỹ thuật”: cơ sở đào tạo không được tăng chỉ tiêu nếu tỷ lệ sinh viên thôi học sau năm thứ nhất vượt 15% hoặc tỷ lệ người tốt nghiệp có việc làm phù hợp với trình độ đào tạo dưới 70% trong vòng 12 tháng.

Nới biên độ vượt chỉ tiêu: Tháo gỡ bất cập nhiều năm

Ảnh minh hoạ: Sinh viên Học viện Hàng không Việt Nam
Ảnh minh hoạ: Sinh viên Học viện Hàng không Việt Nam

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Tô Văn Phương - Trưởng phòng Đào tạo, Trường Đại học Nha Trang bày tỏ sự ủng hộ với đề xuất nới rộng biên độ tuyển sinh vượt chỉ tiêu.

Theo thầy Phương, theo quy định hiện hành và các văn bản liên quan, trường đại học tuyển vượt từ 3% so với chỉ tiêu đã xác định có thể bị xử phạt hành chính. Thực tế những năm qua, khi xem xét xử lý các trường vượt chỉ tiêu, nhiều cơ sở đào tạo đã phản ánh những bất cập trong cách tính.

“Với các chương trình thạc sĩ, tiến sĩ, quy mô tuyển sinh vốn nhỏ. Chỉ cần vượt thêm 1 nghiên cứu sinh hoặc 1 học viên cao học là tỷ lệ đã vượt quá 3-5%. Điều này chưa thực sự phù hợp với thực tiễn đào tạo sau đại học”, thầy Phương phân tích.

Vì vậy, mức 20% đối với thạc sĩ, tiến sĩ được cho là hợp lý hơn, tạo dư địa để các trường chủ động trong bối cảnh quy mô ngành nhỏ và số lượng nhập học biến động theo từng năm. Ở bậc đại học, mức 5% tuy không lớn nhưng cũng là bước điều chỉnh so với trước đây.

“Với Trường Đại học Nha Trang, chúng tôi thấy mức này phù hợp, không quá thấp nhưng cũng không quá cao, vẫn nằm trong tổng thể cân đối chung của hệ thống”, thầy Phương chia sẻ.

Ở góc nhìn khác, Trưởng phòng Tuyển sinh và Công tác sinh viên một trường đại học phía Nam cho rằng việc nâng từ 3% lên 5% là “dễ thở hơn trước”, nhưng cách tính theo từng ngành/nhóm ngành thay vì theo lĩnh vực sẽ làm thay đổi cách điều tiết nội bộ.

Trước đây, khi tính theo lĩnh vực, các ngành trong cùng lĩnh vực có thể linh hoạt bù trừ cho nhau. Nay nếu kiểm soát theo từng ngành cụ thể, ngành nào vượt là xử lý ngành đó, không thể “chuyển” sang ngành khác trong cùng lĩnh vực.

“Cách làm mới minh bạch hơn, gắn trách nhiệm rõ với từng ngành, nhưng cũng khiến các trường phải dự báo chính xác hơn, vì dư địa điều hòa nội bộ không còn như trước”, vị này nhận định.

Trong khi đó, Thạc sĩ Nguyễn Minh Tùng - Trưởng phòng Tuyển sinh và Công tác sinh viên, Học viện Hàng không Việt Nam cho rằng mức 5% ở bậc đại học vẫn còn tương đối nhỏ, nhất là với những ngành quy mô tuyển sinh thấp.

“Ví dụ một ngành có 50 chỉ tiêu, 5% tương đương khoảng 2-3 sinh viên. Chỉ cần chênh lệch một vài em là đã vượt. Trong khi số lượng thí sinh nhập học thực tế rất khó dự đoán do tỷ lệ ảo”, thầy Tùng phân tích.

Theo Thạc sĩ Nguyễn Minh Tùng, có thể cân nhắc cơ chế linh hoạt hơn, chẳng hạn cho phép trường gọi nhập học dựa trên tỷ lệ ảo của chính ngành đó ở năm trước. “Nếu năm nay gọi 110% và thực tế nhập học về đúng 100%, thì năm sau có thể được phép gọi ở mức tương tự. Như vậy sẽ có căn cứ thực tiễn hơn, thay vì phải ‘áng chừng’, gọi vừa đủ thì sợ thiếu, gọi nhiều thì lo vượt và bị xử phạt”, thầy Tùng đề xuất.

Tỷ lệ thôi học: Bài toán với những ngành khó tuyển sinh

Ảnh minh hoạ: Giảng viên và sinh viên Trường Đại học Nha Trang
Ảnh minh hoạ: Giảng viên và sinh viên Trường Đại học Nha Trang

Về quy định không được tăng chỉ tiêu nếu tỷ lệ sinh viên thôi học sau năm thứ nhất vượt 15%, Phó Giáo sư Tô Văn Phương cho rằng cần nhìn theo đặc thù từng ngành thay vì chỉ tính cơ học.

Nếu tính trên bình diện toàn trường, tỷ lệ thôi học thường không vượt 15%. Tuy nhiên, ở cấp độ từng ngành, đặc biệt là ngành quy mô nhỏ, con số này có thể biến động mạnh.

“Ngành tuyển 15 sinh viên, chỉ cần 2 em nghỉ sau một học kỳ là đã vượt 15%. Đây là thực tế nhiều trường đa ngành gặp phải”, thầy Phương nói.

Theo thầy Phương, những ngành “hot”, điểm đầu vào cao thường có tỷ lệ thôi học thấp, dưới 10%. Ngược lại, các ngành khó tuyển, như một số ngành kỹ thuật nông, lâm, ngư, nhà trường buộc phải hạ điểm chuẩn để duy trì ngành. Khi chất lượng đầu vào không đồng đều, động cơ và mức độ chuyên tâm của sinh viên cũng dễ bị ảnh hưởng; một số em sau khi nhập học mới nhận ra không phù hợp nên xin nghỉ hoặc bị buộc thôi học do kết quả học tập.

Tuy nhiên, vị này nhấn mạnh: khó tuyển không đồng nghĩa với nhu cầu xã hội thấp. “Có những ngành như quản lý thủy sản, nuôi trồng thủy sản, doanh nghiệp lớn đặt hàng đào tạo, cam kết hỗ trợ kinh phí và tiếp nhận sinh viên sau tốt nghiệp. Cơ hội việc làm rất rõ ràng”, thầy Phương dẫn chứng.

Theo Phó Giáo sư Tô Văn Phương, vấn đề nằm ở công tác hướng nghiệp và cung cấp thông tin dự báo nhu cầu nhân lực chưa thật sự hiệu quả ở tầm vĩ mô. Khi chưa hiểu rõ triển vọng nghề nghiệp, thí sinh dễ thiếu hứng thú với những ngành nghe tên có vẻ “khó” hoặc ít phổ biến.

Do đó, bên cạnh các chỉ số kỹ thuật như tỷ lệ thôi học hay việc làm, cần có công cụ điều tiết vĩ mô đối với những ngành đặc thù, có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời tăng cường truyền thông và hướng nghiệp để điều chỉnh nhận thức xã hội.

Lấy tiến sĩ làm chuẩn: Áp lực với trường đội ngũ còn mỏng

Một thay đổi quan trọng khác của dự thảo là quy định lấy giảng viên trình độ tiến sĩ làm mốc chuẩn (hệ số 1) khi xác định chỉ tiêu tuyển sinh. Hệ số quy đổi của giảng viên thạc sĩ và đại học giảm mạnh so với trước: thạc sĩ từ 1,5 xuống 0,5; đại học từ 1 xuống 0,2.

Điều này đồng nghĩa, nếu muốn giữ nguyên hoặc tăng chỉ tiêu tuyển sinh, các trường buộc phải gia tăng tỷ lệ giảng viên có học vị tiến sĩ.

Nhiều chuyên gia cho rằng quy định này phù hợp với định hướng nâng cao chất lượng đội ngũ, đặc biệt trong bối cảnh chuẩn cơ sở giáo dục đại học ngày càng nhấn mạnh năng lực nghiên cứu và đào tạo sau đại học. Tuy nhiên, với những trường có tỷ lệ giảng viên tiến sĩ còn hạn chế, đây sẽ là áp lực không nhỏ và có thể ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô tuyển sinh.

Ở góc nhìn thực tiễn, Phó Giáo sư Tô Văn Phương cho biết, với những cơ sở có đội ngũ giảng viên tiến sĩ, giáo sư, phó giáo sư dồi dào, điều chỉnh này không quá đáng lo ngại. Nhưng với các trường còn đang trong quá trình nâng chuẩn đội ngũ, việc đáp ứng yêu cầu mới sẽ đòi hỏi chiến lược dài hạn về thu hút, đào tạo và giữ chân giảng viên trình độ cao.

Dù vậy, theo thầy Phương, dự thảo Thông tư lần này cho thấy xu hướng quản lý chỉ tiêu tuyển sinh theo hướng gắn chặt hơn với chất lượng đội ngũ giảng viên và hiệu quả đầu ra của từng ngành đào tạo.

“Đây cũng hướng điều chỉnh phù hợp trong bối cảnh tự chủ đại học đang ngày càng đi vào thực chất, đòi hỏi các trường phải tự chịu trách nhiệm nhiều hơn về chất lượng đào tạo của mình”, thầy Phương nhấn mạnh.

Doãn Nhàn