Trường thành viên sẵn sàng mọi nguồn lực cùng ĐHQG TP.HCM đạt mục tiêu hợp tác 100 doanh nghiệp/năm

23/02/2026 06:23
Mạnh Dũng

GDVN - Theo thầy Phạm Trần Vũ, nếu đạt mục tiêu hợp tác với 100 doanh nghiệp/năm, ĐH Quốc gia TP.HCM sẽ hình thành mạng lưới đối tác đủ lớn và đa dạng.

Nhận thức rõ việc gắn kết với thực tiễn là yếu tố then chốt để đại học trở thành động lực phát triển kinh tế - xã hội, Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thị Thanh Mai - Giám đốc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh khẳng định giáo dục không thể tách rời nhu cầu của doanh nghiệp và địa phương. Chính vì tầm quan trọng chiến lược đó, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đã đặt mục tiêu cho giai đoạn 2026-2030 là mỗi năm hợp tác với ít nhất 100 doanh nghiệp để đưa học tập trải nghiệm thành nội dung đào tạo cốt lõi. [1]

Kế hoạch này không chỉ nhận được sự đồng thuận cao từ các đơn vị thành viên mà còn đang được cụ thể hóa thành những hoạt động rõ ràng, nhằm thu hẹp khoảng cách giữa giảng đường và thị trường lao động.

Bước đi chiến lược trong đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Trần Vũ - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, hoạt động giảng dạy, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ của trường đại học phải phục vụ yêu cầu phát triển của xã hội, trong đó có sự phát triển của doanh nghiệp và địa phương. Vì vậy, việc gắn kết chặt chẽ với nhu cầu thực tiễn không chỉ giúp rút ngắn khoảng cách giữa học thuật và đời sống, mà còn giúp trường đại học cập nhật được các vấn đề ưu tiên, các thách thức mới để định hướng nghiên cứu và đổi mới chương trình đào tạo.

Ở chiều ngược lại, các bài toán từ doanh nghiệp và địa phương chính là “đầu bài” quan trọng, giúp hình thành những hướng nghiên cứu có giá trị ứng dụng, tạo ra sản phẩm, công nghệ và mô hình triển khai hiệu quả. Những kết quả này giúp trường đại học nâng cao chất lượng đào tạo, đồng thời người học được phát triển năng lực giải quyết vấn đề trong môi trường thực tiễn.

Cách tiếp cận này cũng phù hợp với các chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là Nghị quyết 57-NQ/TW ngày 22 tháng 12 năm 2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia và Nghị quyết 71-NQ/TW ngày 22 tháng 8 năm 2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.

Cũng theo thầy Vũ, việc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đặt mục tiêu hợp tác tối thiểu 100 doanh nghiệp mỗi năm trong giai đoạn 2026–2030 mang ý nghĩa định hướng chiến lược, nhằm đưa hợp tác doanh nghiệp trở thành một trụ cột trong đào tạo, nghiên cứu và chuyển giao công nghệ của toàn hệ thống.

Mục tiêu này thể hiện vai trò của một đại học đa lĩnh vực, có năng lực kết nối và điều phối nguồn lực giữa các đơn vị thành viên, các viện, trung tâm nghiên cứu, địa phương và cộng đồng doanh nghiệp. Khi được triển khai đồng bộ, đây sẽ là nền tảng để hình thành những chương trình hợp tác quy mô lớn, mạng lưới nghiên cứu – đổi mới sáng tạo theo mô hình “3 nhà” và các hoạt động học tập trải nghiệm gắn với doanh nghiệp một cách thực chất.

Là đơn vị thành viên của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, mục tiêu này vừa là yêu cầu, vừa là cơ hội để nhà trường phát huy vai trò nòng cốt trong các lĩnh vực công nghệ, kỹ thuật và chuyển giao khoa học công nghệ. Thông qua hợp tác với doanh nghiệp, nhà trường có điều kiện cập nhật yêu cầu thực tiễn, đồng thiết kế chương trình đào tạo, phát triển học kỳ doanh nghiệp, triển khai các đề tài nghiên cứu ứng dụng và dự án chuyển giao gắn với bài toán cụ thể của doanh nghiệp và địa phương.

thay-pham-tran-vu-bka-hcm-3850-5439.jpg
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Trần Vũ - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Bách Khoa, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh NVCC

Cùng chia sẻ về vấn đề này, theo đại diện Phòng Hành chính - Truyền thông, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, việc gắn kết hoạt động giảng dạy và nghiên cứu với nhu cầu của doanh nghiệp và địa phương là điều kiện quan trọng để cơ sở giáo dục đại học thực sự trở thành động lực phát triển xã hội. Khi hoạt động giảng dạy gắn kết với doanh nghiệp và địa phương, người học có môi trường học tập thông qua trải nghiệm thực tế sẽ giúp các em ngày càng nâng cao năng lực.

Đối với Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, các ngành đào tạo liên quan đến lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn từng có thời gian bị nhìn nhận là mang tính hàn lâm, với kết quả nghiên cứu chủ yếu được lưu giữ trong hồ sơ hay trên kệ sách. Tuy nhiên, trong nhiều năm gần đây, thực tiễn đã chứng minh các nghiên cứu của nhà trường có khả năng ứng dụng cao và đang được xã hội sử dụng hiệu quả.

Nhiều công trình nghiên cứu đã trực tiếp đóng góp cho phát triển kinh tế – xã hội, từ hoạch định chính sách, quản trị xã hội, phát triển văn hóa, du lịch bền vững đến xây dựng các mô hình phát triển cộng đồng. Việc gắn kết với doanh nghiệp và địa phương giúp tri thức khoa học xã hội không chỉ giải thích hiện thực mà còn định hướng các mô hình phát triển trong hiện tại và tương lai, phù hợp với chiến lược phát triển của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2026–2030.

Mục tiêu hợp tác với ít nhất 100 doanh nghiệp mỗi năm trong giai đoạn 2026–2030 có ý nghĩa quan trọng đối với nhà trường, giảng viên và người học. Trên thực tế, nhà trường đã triển khai nhiệm vụ này trong nhiều năm thông qua các hoạt động liên kết đào tạo, nghiên cứu, học tập trải nghiệm, phục vụ cộng đồng và kết nối với nhà tuyển dụng… Vì vậy, mục tiêu này không phải là định hướng hoàn toàn mới, mà là tạo thêm cơ sở và động lực để nhà trường thúc đẩy các hoạt động hợp tác một cách bài bản, hệ thống và hiệu quả hơn.

Đối với giảng viên, việc hợp tác với doanh nghiệp giúp gắn nghiên cứu và giảng dạy với thực tiễn, mở rộng không gian đào tạo và nghiên cứu ứng dụng. Với người học, đây là điều kiện thuận lợi để tăng cường trải nghiệm thực tế, phát triển kỹ năng, năng lực nghề nghiệp và nâng cao khả năng thích ứng với thị trường lao động. Mục tiêu cụ thể cũng giúp nhà trường tập trung nguồn lực, ưu tiên các mô hình hợp tác có chiều sâu, qua đó nâng cao chất lượng đào tạo và đóng góp thiết thực cho xã hội.

ky-ket-hop-tac.jpg
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh tích cực triển khai các hoạt động hợp tác với doanh nghiệp. Ảnh website nhà trường.

Đơn vị thành viên thực hiện mục tiêu hợp tác ra sao?

Theo đại diện Phòng Hành chính - Truyền thông của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, với mục tiêu hợp tác ít nhất 100 doanh nghiệp mỗi năm, nhà trường sẽ xây dựng cơ chế để duy trì mối quan hệ bền vững, đảm bảo doanh nghiệp tham gia trực tiếp vào khâu thiết kế bài giảng và nghiên cứu thay vì chỉ hỗ trợ tham quan, kiến tập.

Trên thực tế, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã chủ động triển khai các hoạt động hợp tác với doanh nghiệp từ nhiều năm qua. Nhà trường đã xây dựng cơ chế hợp tác doanh nghiệp thông qua việc ký kết các thỏa thuận hợp tác để doanh nghiệp cùng tham gia vào việc xây dựng chương trình đào tạo, tham gia chia sẻ kiến thức, kỹ năng và định hướng nghề nghiệp cho sinh viên.

Hơn nữa, đại diện doanh nghiệp cũng tham gia giảng dạy đối với những chuyên đề về kiến thức thực hành và thực tiễn (như ở những ngành du lịch, báo chí, truyền thông, công tác xã hội, nghệ thuật…), tham gia ngày hội việc làm hay các tọa đàm, hội thảo khoa học, hỗ trợ các chương trình thực tập, kiến tập tại doanh nghiệp, tham quan doanh nghiệp, tư vấn cho sinh viên trong chương trình “Người Nhân văn khởi nghiệp”,...

Những hoạt động này cho thấy liên kết đại học – doanh nghiệp không phải là định hướng mới, mà đã nằm trong chiến lược phát triển dài hạn của nhà trường. Trong thời gian tới, nhà trường sẽ tiếp tục đánh giá, hoàn thiện cơ chế phối hợp và tăng cường sự tham gia sâu hơn của doanh nghiệp vào thiết kế và triển khai chương trình đào tạo.

Vì vậy, mục tiêu hợp tác ít nhất 100 doanh nghiệp mỗi năm do Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đề ra là hoàn toàn phù hợp và sẽ tạo thêm cơ sở để nhà trường tập trung nguồn lực, mở rộng hợp tác theo hướng bài bản, hiệu quả và bền vững.

Vị này cũng cho biết thêm, nhà trường xác định việc kết nối giảng viên – người học – chuyên gia từ doanh nghiệp là yếu tố then chốt để nâng cao chất lượng đào tạo.

Do vậy, nhà trường đã có chính sách “gắn kết doanh nghiệp” trong mọi hoạt động từ đào tạo, nghiên cứu khoa học, tọa đàm, hội thảo đến xây dựng mạng lưới cựu sinh viên. Trường thường xuyên tổ chức hội nghị nhà tuyển dụng, ở cả cấp trường và cấp khoa, tạo diễn đàn đối thoại trực tiếp giữa doanh nghiệp, giảng viên và sinh viên. Thông qua các hoạt động này, nhà trường không chỉ giới thiệu người học với thị trường lao động, mà còn lấy ý kiến phản hồi của nhà tuyển dụng để điều chỉnh chương trình đào tạo, nội dung học phần và chuẩn đầu ra cho phù hợp với thực tiễn.

Bên cạnh đó, các mạng lưới doanh nghiệp của nhà trường được duy trì và mở rộng thông qua cộng đồng cựu sinh viên. Nhiều người hiện đang giữ vai trò quản lý, chuyên gia hoặc chủ doanh nghiệp. Đây là cầu nối quan trọng giúp chuyên gia tham gia giảng dạy, hướng dẫn, chia sẻ kinh nghiệm và đồng hành cùng người học thông qua các hoạt động được tổ chức thường xuyên. Các dự án, hoạt động của nhà trường cũng đáp ứng nhu cầu, sự phát triển của doanh nghiệp. Cách làm này giúp tạo nên hệ sinh thái kết nối bền vững giữa đào tạo, nghiên cứu và thị trường lao động.

Trong khi đó, theo thầy Phạm Trần Vũ, để mục tiêu hợp tác tối thiểu 100 doanh nghiệp mỗi năm không dừng ở mức “kết nối” hay “hỗ trợ đào tạo”, điều quan trọng là phải chuyển mô hình hợp tác sang hướng đặt hàng – đồng nghiên cứu – đồng đầu tư – đồng thương mại hóa, đúng với tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW.

Theo đó, tại Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, nhà trường đang tập trung triển khai các cơ chế mang tính nền tảng.

Cụ thể, nhà trường thiết kế hợp tác theo danh mục bài toán ưu tiên của doanh nghiệp và địa phương, chuyển từ hợp tác theo sự kiện sang hợp tác theo chương trình và theo chuỗi dự án, có mục tiêu đầu ra rõ ràng (giải pháp, quy trình, sản phẩm, sở hữu trí tuệ).

Đồng thời, tổ chức các mô hình phòng thí nghiệm liên kết và nhóm nghiên cứu đồng hành cùng doanh nghiệp, trong đó doanh nghiệp tham gia từ khâu xác định bài toán, đồng tài trợ, cung cấp dữ liệu – hạ tầng – môi trường thử nghiệm, và cùng đánh giá kết quả.

Bên cạnh đó, nhà trường cũng chuẩn hóa cơ chế chuyển giao và thương mại hóa kết quả nghiên cứu, bao gồm sở hữu trí tuệ, chia sẻ lợi ích, định giá công nghệ và lộ trình đưa sản phẩm ra thị trường. Đây là điều kiện then chốt để doanh nghiệp hợp tác đi vào chiều sâu và tạo ra tác động thực sự.

Hơn nữa, việc gắn hợp tác doanh nghiệp với các lĩnh vực công nghệ chiến lược, ưu tiên các hướng có năng lực tạo ra sản phẩm và năng lực cạnh tranh quốc gia như AI, vi mạch – bán dẫn, tự động hóa – robot, năng lượng và công nghệ số được nhà trường chú trọng.

Đặc biệt, trường đã đổi mới cơ chế đánh giá và ghi nhận đóng góp của giảng viên, nhóm nghiên cứu, theo hướng coi các kết quả như sản phẩm chuyển giao, sáng chế, giải pháp triển khai, doanh thu khoa học và công nghệ… là những chỉ tiêu quan trọng, bên cạnh công bố khoa học.

bka-hcm-hop-tac-dn.jpg
Lãnh đạo Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh tại lễ ký kết thỏa thuận hợp tác với Công ty Cổ phần Tập đoàn Hoa Sen. Ảnh website nhà trường.

Thầy Vũ cũng nhấn mạnh, với cách tiếp cận theo những cơ chế này, con số 100 không phải là “đếm số doanh nghiệp ký hợp tác”, mà là để hình thành một mạng lưới đối tác đủ lớn và đủ đa dạng, giúp Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh và các đơn vị thành viên, trong đó có Trường Đại học Bách khoa, xây dựng được hệ sinh thái hợp tác khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo có chiều sâu, tạo ra các sản phẩm và giải pháp phục vụ phát triển kinh tế – xã hội.

Riêng đối với việc huy động nguồn lực chuyên gia đến từ doanh nghiệp tham gia trực tiếp vào thiết kế chương trình đào tạo, hiện nay các khoa trong Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đang duy trì Hội đồng cố vấn Công nghiệp, gồm các chuyên gia và đại diện các doanh nghiệp tiêu biểu theo từng ngành, lĩnh vực. Hội đồng họp định kỳ hằng năm nhằm rà soát, đánh giá mức độ phù hợp của chương trình đào tạo so với yêu cầu thực tiễn; từ đó đề xuất những cải tiến, cập nhật hoặc tái thiết kế chương trình để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của doanh nghiệp và thị trường lao động.

Tài liệu tham khảo:

[1]: https://nhandan.vn/hoc-tap-trai-nghiem-trong-giao-duc-dai-hoc-doi-moi-sang-tao-post940287.html

Mạnh Dũng