Thời cơ để GDĐH Việt Nam vươn tới mục tiêu nâng tầm trong “bàn cờ” giáo dục châu Á và thế giới

26/02/2026 06:22
Mộc Trà

GDVN-Yêu cầu xây dựng nền GD đại học hiện đại, tự chủ, hội nhập quốc tế và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trở thành nhiệm vụ mang tính chiến lược.

Tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV đã thông qua Nghị quyết số 249/2025/QH15 phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026-2035 (sau đây gọi là Chương trình).

gddh.gif

“Chìa khóa” then chốt để đột phá phát triển đối với giáo dục đại học

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Ngô Như Khoa - Bí thư Đảng ủy, Trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp (Đại học Thái Nguyên) bày tỏ: “Chính sách và con người là hai yếu tố đặc biệt quan trọng để phát triển giáo dục và đào tạo nói chung, cũng như giáo dục đại học nói riêng. Giai đoạn tới sẽ là một giai đoạn vô cùng thuận lợi cho các cơ sở giáo dục đại học khẳng định vị thế của mình - khi có sự dịch chuyển về mặt tư tưởng, quyết sách, nâng cao yêu cầu về chất lượng nguồn nhân lực - sản phẩm đào tạo của các nhà trường được xã hội coi trọng.

Một thể chế “mở” được tạo ra, từ nền tảng của 2 nghị quyết của Bộ Chính trị (Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia song hành với Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo), cùng hàng loạt luật, nghị quyết của Quốc hội vừa được thông qua tại Kỳ họp thứ 10, đã định hướng mang tính chất nền tảng cho giáo dục và đào tạo, cũng như giáo dục đại học nói riêng - thực sự đặt giáo dục vào “quốc sách hàng đầu”.

Đặc biệt, Nghị quyết số 249/2025/QH15 phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026-2035 sẽ tạo những thời cơ đặc biệt lớn cho các cơ sở giáo dục đại học, thúc đẩy giáo dục đại học đi vào thực chất, giúp các trường có cơ hội để bứt phá.

Những mục tiêu cụ thể đã được đặt ra trong Chương trình đến 2030 và 2035 chính là bức tranh tổng thể của giáo dục đại học Việt Nam, vươn tới mục tiêu được nâng tầm trong “bàn cờ” giáo dục tại châu Á và thế giới. Trọng trách của các đại học lớn như đại học quốc gia và các cơ sở giáo dục đại học trọng điểm trong giai đoạn tới là rất lớn…”.

bai-tet.png

Cùng chia sẻ về nội dung này, Giáo sư, Tiến sĩ Lê Thanh Sơn - Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Tự nhiên (Đại học Quốc gia Hà Nội) cũng nhìn nhận, thời gian tới, giáo dục đại học của Việt Nam đứng trước thời cơ với nhiều thuận lợi: Một là, giáo dục đại học được ưu tiên đầu tư chiến lược, tạo điều kiện tốt hơn để bứt phá mạnh mẽ. Hai là, nâng cao chất lượng đào tạo kết hợp nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo, đáp ứng nhu cầu đào tạo tài năng, nhân lực chất lượng cao phục vụ đất nước. Ba là, thúc đẩy tự chủ đại học một cách thực chất và chuyển đổi số, đổi mới căn bản mô hình đại học và trường đại học. Bốn là, tăng khả năng hội nhập quốc tế, nâng vị thế giáo dục đại học Việt Nam.

Đặc biệt, với việc từ ngày 01/01/2026, cùng lúc 4 luật, 2 nghị quyết về giáo dục và đào tạo có hiệu lực, đã mở ra rất nhiều cơ hội lớn cho giáo dục đại học.

Theo Giáo sư, Tiến sĩ Lê Thanh Sơn, giáo dục đại học Việt Nam đứng trước cơ hội phát triển mạnh mẽ, tạo tiền đề quan trọng cho phát triển đất nước.

Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Tự nhiên (Đại học Quốc gia Hà Nội) cũng phân tích những thời cơ dành cho các cơ sở giáo dục đại học nói chung và các trường đào tạo khối ngành khoa học cơ bản nói riêng: “Đào tạo đại học được ưu tiên đầu tư và chính sách, đặc biệt khoa học cơ bản nền tảng được chú trọng hơn (toán, lý, hóa, sinh, và các ngành khoa học trái đất…). Khẳng định vai trò trụ cột, đặc biệt quan trọng của khoa học cơ bản là nền tảng của công nghệ, kỹ thuật, ứng dụng, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Thông qua đó, tạo cơ sở để thu hút đội ngũ có trình độ cao giảng dạy và thu hút sinh viên giỏi thông qua học bổng, chính sách đãi ngộ, chế độ tốt hơn.

Gắn nghiên cứu cơ bản với ứng dụng AI, bán dẫn, vật liệu mới, công nghệ hạt nhân, công nghệ sinh học, hóa dược. Đồng thời, mở rộng, đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong đào tạo, nghiên cứu khoa học và công bố quốc tế uy tín”.

bai-tet-4.png

Với những cơ chế, chính sách tạo ra nhiều thuận lợi, Giáo sư Lê Thanh Sơn kỳ vọng: “Trong thời gian tới, có thể nâng cao chất lượng đào tạo gắn với nghiên cứu, hình thành các trung tâm khoa học mạnh. Đào tạo chiến lược, đào tạo tinh hoa, ươm tạo tài năng khoa học công nghệ và nhân lực để phát triển đất nước.

Đặc biệt, đối với giáo dục đại học các ngành khoa học cơ bản với cơ hội vượt bậc được kỳ vọng sẽ bứt phá thay đổi rõ nét, khẳng định lại vị thế, chất lượng và tạo sức hút”.

Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Tự nhiên (Đại học Quốc gia Hà Nội) cũng chỉ ra những khó khăn, thách thức đang hiện hữu đối với các cơ sở giáo dục đại học và với các trường đào tạo khối ngành khoa học cơ bản nói riêng: “Đầu tiên, phải kể đến đó là áp lực nâng cao chất lượng theo để đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế và kiểm định chất lượng. Đội ngũ giảng viên, nhà khoa học giỏi tại một số cơ sở giáo dục đại học chưa đáp ứng yêu cầu.

Bên cạnh đó, một số ngành khoa học cơ bản vẫn khó thu hút người học, nhất là người học giỏi, có năng lực.

Hạn chế nguồn lực và năng lực tự chủ đại học trong bối cảnh cạnh tranh cao và nguy cơ “chảy máu chất xám”. Các cơ sở giáo dục đại học đứng trước khó khăn lớn về nguồn lực, nhân lực và quản trị trong giai đoạn tới”.

Từ những khó khăn và thách thức đặt ra trong thực tiễn, Giáo sư Lê Thanh Sơn chia sẻ: “Để thực hiện được những mục tiêu như đã đặt ra tại Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026-2035, theo tôi, cần chú trọng các giải pháp “chìa khóa” như: Đẩy mạnh thu hút và giữ chân nhà khoa học làm giảng viên với đãi ngộ cạnh tranh và môi trường học thuật tốt; Hình thành các trung tâm nghiên cứu mạnh, nhóm nghiên cứu mạnh đẳng cấp quốc tế; Đổi mới phương thức đào tạo, chương trình đào tạo tài năng, tinh hoa, gắn đào tạo với nghiên cứu khoa học, công nghệ và ứng dụng thực tiễn; Và tăng hợp tác “3 nhà” (Nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp) và hợp tác quốc tế”.

bai-tet-3.png

Đầu tư hỗ trợ đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý và người học là “đòn bẩy” quan trọng

Chương trình cũng đặt mục tiêu đến năm 2030, đầu tư hỗ trợ nhằm nâng cao chất lượng, năng lực của đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục và người học để đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, chủ động chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, hội nhập quốc tế và phát triển toàn diện người học. Đồng thời, đến năm 2035, tiếp tục bồi dưỡng nhằm nâng cao chất lượng, năng lực của đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục và người học.

Giáo sư Lê Thanh Sơn cho rằng, điều này cũng sẽ mở ra nhiều cơ hội đối với các cơ sở giáo dục đại học: “Đầu tư hỗ trợ cho đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục và người học là “đòn bẩy” quan trọng để các cơ sở giáo dục đại học nâng cao chất lượng đào tạo, năng lực quản trị, đẩy mạnh chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế. Thông qua đó, các trường đại học từng bước tái cấu trúc mô hình phát triển, gắn đào tạo với nghiên cứu khoa học và chuyển giao tri thức, đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo trong giai đoạn mới.

Về cơ hội đối với các cơ sở giáo dục đại học, đầu tiên là nâng cao chất lượng đội ngũ, các trường có điều kiện chuẩn hóa và quốc tế hóa đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý; Thúc đẩy chuyển đổi số, đầu tư hạ tầng số và kỹ năng số giúp các trường đổi mới quản trị, phát triển đại học số; Đổi mới sáng tạo, các trường có điều kiện đầu tư phòng thí nghiệm, trung tâm nghiên cứu, vườn ươm đổi mới sáng tạo nhằm gắn đào tạo với nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và khởi nghiệp.

Đồng thời, cơ hội về hội nhập quốc tế, hợp tác đào tạo, nghiên cứu, trao đổi giảng viên, sinh viên được mở rộng, đặc biệt thu hút sinh viên quốc tế và từng bước xây dựng thương hiệu giáo dục đại học Việt Nam.

Và tạo cơ hội phát triển toàn diện người học. Theo đó, người học được phát triển đồng thời tri thức, kỹ năng, phẩm chất, năng lực số và năng lực toàn cầu”.

“Mục tiêu trên về đội ngũ sẽ giúp các cơ sở giáo dục đại học không chỉ nâng cao uy tín học thuật, năng lực cạnh tranh quốc tế, mà còn khẳng định vai trò trung tâm trong đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, phát triển toàn diện người học và đóng góp thiết thực cho sự phát triển bền vững của đất nước” - vị Hiệu trưởng nhấn mạnh.

bai-tet.jpg

Về phía Trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp (Đại học Thái Nguyên), Phó Giáo sư Ngô Như Khoa cũng chia sẻ: “Để phát triển bền vững, trong mọi điều kiện hoàn cảnh, các cơ sở giáo dục đại học đều phải quan tâm, chú trọng đội ngũ, bởi nếu không có yếu tố con người thực sự tốt, thì không thể có chất lượng đào tạo tốt.

Riêng đối với nhà trường, đã xây dựng chiến lược phát triển từ 2026-2030, đáp ứng 50% giảng viên trình độ tiến sĩ, trong đó, định hướng tập trung vào tuyển dụng giảng viên trẻ và đưa đi đào tạo ở nước ngoài. Chẳng hạn, trong số 50% tiến sĩ đó, sẽ có khoảng 80% tiến sĩ mới của nhà trường là đội ngũ giảng viên trẻ được tuyển dụng và đưa ra nước ngoài đào tạo. Tất nhiên, nhà trường sẽ tranh thủ tối đa nguồn lực của Nhà nước (nếu có) để phát triển đội ngũ.

Mong chờ lớn nhất của nhà trường cũng như các cơ sở giáo dục đại học, theo tôi, là có thể tham gia vào chương trình mục tiêu quốc gia vừa được Quốc hội phê duyệt, để có nguồn lực xây dựng cơ sở vật chất, đầu tư trang thiết bị để phục vụ công tác đào tạo tốt hơn và từ đó nâng cao chất lượng, khẳng định vị thế”.

Cơ sở giáo dục đại học chủ động đưa ra nhiệm vụ, giải pháp, đặt ra mục tiêu chiến lược riêng

Trước những cơ hội lớn được mở ra khi thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026-2035, các cơ sở giáo dục đại học cũng đã có nhiều thuận lợi từ nền tảng triển khai Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.

Trên cơ sở ấy, nhiều cơ sở giáo dục đại học cũng đã đưa ra những nhiệm vụ, giải pháp để thực hiện Nghị quyết số 71, đặt ra những mục tiêu chiến lược riêng của nhà trường, đồng thời, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu trên tại Chương trình.

Chia sẻ với phóng viên, Tiến sĩ Nguyễn Văn Bình - Phó Giám đốc Học viện Tài chính đề cập: “Trong bối cảnh toàn cầu đang bước vào giai đoạn chuyển đổi sâu rộng dưới tác động của cách mạng công nghiệp lần thứ tư, giáo dục đại học không chỉ là lĩnh vực đào tạo nguồn nhân lực mà còn là trung tâm sáng tạo tri thức, đổi mới quản trị và dẫn dắt phát triển quốc gia.

Ở Việt Nam, yêu cầu xây dựng nền giáo dục đại học hiện đại, tự chủ, hội nhập quốc tế và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trở thành nhiệm vụ mang tính chiến lược”.

Đứng trước những thách thức từ bối cảnh thực tiễn và yêu cầu kỷ nguyên phát triển mới của đất nước, Học viện Tài chính đã đề ra mục tiêu đến năm 2030: Hoàn thiện mô hình quản trị đại học hiện đại, nâng cao hiệu lực, hiệu quả, tăng cường tự chủ gắn với trách nhiệm giải trình và cơ chế giám sát của Đảng. Nâng tầm đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý. Xây dựng đội ngũ giảng viên, nhà khoa học chất lượng cao, có ít nhất 80% giảng viên có trình độ tiến sĩ; 40% có kinh nghiệm giảng dạy hoặc nghiên cứu quốc tế. Thường xuyên cập nhật, bổ sung các chương trình đào tạo, phấn đấu 100% chương trình đào tạo được rà soát, chuẩn hóa; ít nhất 30% chương trình đạt kiểm định quốc tế.

Đồng thời, hoàn thành chuyển đổi số toàn diện, vận hành nền tảng “Đại học số Học viện Tài chính”. Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, chuyển giao tri thức và đổi mới sáng tạo; có tối thiểu 200 công bố quốc tế mỗi năm; gắn nghiên cứu khoa học với nâng cao chất lượng đào tạo. Xây dựng môi trường học tập khai phóng, nhân văn, kỷ cương, sáng tạo, hội nhập; đào tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao, cử nhân ưu tú, thực sự là “vườn ươm” nhân tài quốc gia.

bai-tet-558.png

Theo Tiến sĩ Nguyễn Văn Bình, để thực hiện được mục tiêu nêu trên, năm 2026 và những năm tiếp theo, Học viện Tài chính cần triển khai các giải pháp mang tính đột phá sau:

Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong thực hiện Nghị quyết.

Tổ chức học tập, quán triệt Nghị quyết số 71-NQ/TW đến toàn thể cán bộ, đảng viên, giảng viên, học viên, sinh viên và đưa nội dung nghị quyết vào sinh hoạt chi bộ, chương trình đào tạo lý luận chính trị, các hoạt động chuyên môn. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng theo hướng định hướng, giám sát, kiểm tra, gắn kết quả với trách nhiệm người đứng đầu. Đồng thời, tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy trong lãnh đạo, chỉ đạo; chuyển mạnh từ quản lý hành chính sang quản trị phục vụ và kiến tạo phát triển.

Thứ hai, phát triển đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý và nhà khoa học.

Xây dựng và triển khai Kế hoạch phát triển đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý đến năm 2030, bảo đảm cơ cấu hợp lý, bảo đảm số lượng, chất lượng, chuẩn mực và hội nhập quốc tế. Thực hiện chính sách trọng dụng nhân tài, khuyến khích nghiên cứu khoa học, công bố quốc tế, đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy. Xem xét có chế độ đãi ngộ đặc thù, vượt trội cho giảng viên xuất sắc. Mỗi chi bộ, khoa, viện cần có ít nhất một mô hình đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong giảng dạy hoặc nghiên cứu. Nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý và đội ngũ nhà giáo…

Thứ ba, đổi mới mạnh mẽ mô hình quản trị và cơ chế hoạt động.

Rà soát cơ cấu tổ chức; hoàn thiện Quy chế tổ chức và hoạt động của Học viện và chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các đơn vị trực thuộc; tăng cường thẩm quyền cho các khoa, viện, tối ưu hóa mô hình tổ chức bộ máy quản trị.

Hoàn thiện các quy định về biên chế, tiêu chuẩn, điều kiện, quy trình tuyển dụng, bổ nhiệm đối với các chức danh giảng viên theo quy định; quyết định tuyển dụng, thuê giảng viên, bổ nhiệm chức danh lãnh đạo, quản lý đối với người giỏi trong và ngoài nước...

Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong quản trị, tài chính, đào tạo, khảo thí. Thực hiện đúng quy định và công khai, minh bạch trong quản lý, sử dụng ngân sách, tài sản công và nguồn thu tự chủ. Nâng cao năng lực phân tích, dự báo chiến lược và chất lượng tham mưu của các đơn vị, tạo nền tảng cho ra quyết định chính xác và kịp thời.

Thứ tư, nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao tri thức.

Đổi mới chương trình, nội dung và phương pháp giảng dạy theo chuẩn quốc tế, theo định hướng liên ngành, số hóa, quốc tế hóa. Đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá người học.

Xây dựng và vận hành hiệu quả Trung tâm Đổi mới sáng tạo và hỗ trợ khởi nghiệp. Đồng thời, gắn nghiên cứu khoa học với giải quyết các vấn đề thực tiễn của nền tài chính quốc gia và doanh nghiệp; tăng cường nghiên cứu tư vấn chính sách, pháp luật tài chính. Khuyến khích sinh viên tham gia nghiên cứu khoa học, khởi nghiệp sáng tạo, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn vào lĩnh vực tài chính. Có cơ chế hỗ trợ giảng viên và sinh viên triển khai các dự án khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo. Mở rộng hợp tác, liên kết với các cơ sở giáo dục đại học, cơ sở nghiên cứu, tổ chức, doanh nghiệp trong và ngoài nước.

Tăng cường việc dạy và học ngoại ngữ, từng bước đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong nhà trường.

Mở rộng triển khai các chương trình đào tạo tài năng, đào tạo sau đại học gắn với nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo. Gắn kết các hoạt động đào tạo với nghiên cứu, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia.

Đổi mới tuyển sinh đại học theo hướng đánh giá đúng năng lực người học, bảo đảm kiểm soát thống nhất chuẩn đầu vào của các ngành đào tạo và kiểm soát chặt chẽ chất lượng đầu ra. Phát triển chương trình đào tạo song bằng, liên kết quốc tế, đào tạo ngắn hạn chuyên sâu. Tăng cường quản lý chất lượng gắn với chính sách hỗ trợ phù hợp đối với đào tạo tiến sĩ.

Thứ năm, thúc đẩy chuyển đổi số và hiện đại hóa cơ sở vật chất.

Hoàn thiện hạ tầng công nghệ thông tin, đẩy nhanh chuyển đổi số, xây dựng Học viện số và hệ sinh thái học tập thông minh. Xây dựng các nền tảng giáo dục thông minh, sách - giáo trình thông minh. Triển khai hệ thống quản trị học tập, thư viện số, cơ sở dữ liệu nghiên cứu mở.

Phổ cập và ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo trong quản lý đào tạo, khảo thí, nghiên cứu khoa học, tài chính, tài sản.

Tăng cường kết nối, liên thông với các cơ sở giáo dục và thị trường lao động, việc làm, đồng thời bảo đảm an toàn thông tin, bảo mật dữ liệu và tuân thủ quy định của Nhà nước về chuyển đổi số trong giáo dục.

Đào tạo và đầu tư hiện đại hóa hạ tầng kỹ thuật, phát triển cơ sở vật chất phục vụ hoạt động nghiên cứu khoa học... Ưu tiên bố trí kinh phí nghiên cứu khoa học gắn với đào tạo đại học và sau đại học.

Qua chia sẻ từ phía cơ sở đào tạo có thể thấy giáo dục đại học Việt Nam đang đứng trước cơ hội phát triển mạnh mẽ cả về quy mô, chất lượng và vị thế quốc tế. Với những chiến lược phát triển rõ ràng cùng hệ thống giải pháp đồng bộ, quyết liệt, các cơ sở giáo dục đại học sẽ từng bước tham gia vào quá trình hiện thực hóa những mục tiêu trên, góp phần quan trọng trong việc xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, thúc đẩy khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Mộc Trà