LTS: Xuân Bính Ngọ 2026 mở ra trong bối cảnh đặc biệt khi Đại hội XIV vừa tổ chức thành công và đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với những yêu cầu cao hơn về tri thức, khoa học - công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao. Bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, giáo dục đại học đang được kỳ vọng trở thành một trong những động lực quan trọng của tăng trưởng và đổi mới sáng tạo.
Nhìn lại năm vừa qua, giáo dục đại học Việt Nam đã ghi nhận nhiều chuyển động quan trọng, mang ý nghĩa dài hạn, từ tái cấu trúc hệ thống đến hoàn thiện thể chế. Nhân dịp đầu Xuân, phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam có cuộc trao đổi với Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Tiến Thảo - Vụ trưởng Vụ Giáo dục đại học (Bộ Giáo dục và Đào tạo) về những nền tảng đã được tạo dựng, lộ trình hiện thực hóa các “đòn bẩy” chiến lược trong năm đầu tiên triển khai Nghị quyết Đại hội XIV, cũng như những thông điệp truyền cảm hứng gửi tới đội ngũ giảng viên và sinh viên cả nước trước vận hội mới của dân tộc.
Phóng viên: Năm vừa qua, giáo dục đại học Việt Nam ghi nhận nhiều chuyển động quan trọng, từ chuẩn bị tái cấu trúc hệ thống theo hướng nâng cao “chất”, đến các chính sách thúc đẩy khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, cũng như những thay đổi về thể chế, hay sự hiện diện ngày càng rõ trên các bảng xếp hạng quốc tế.
Theo Vụ trưởng, trong số các chuyển động đó, đâu là những yếu tố mang tính nền tảng và có ý nghĩa quyết định nhất cho chặng phát triển tiếp theo của giáo dục đại học?
Vụ trưởng Nguyễn Tiến Thảo: Mọi sự thay đổi mang tính hệ thống của giáo dục đại học đều phải được đặt trên ba trụ cột cơ bản: cơ sở chính trị, hành lang pháp lý và vận động thực tiễn. Nhìn lại giai đoạn vừa qua, có thể thấy bốn yếu tố cốt lõi đang định hình và có ý nghĩa quyết định đối với chặng phát triển tiếp theo của giáo dục đại học Việt Nam.
Thứ nhất, đó là sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, Chính phủ chăm lo cho giáo dục thể hiện qua nhiều chính sách đột phá phát triển giáo dục đào tạo. Trong thời gian qua, giáo dục đại học Việt Nam được định hướng bởi nhiều văn bản quan trọng như Luật Giáo dục đại học năm 2012, Luật Giáo dục đại học sửa đổi năm 2018, cùng với quá trình tổng kết việc thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW năm 2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Trên cơ sở tổng kết thực tiễn phát triển giáo dục đại học đến năm 2025, Nghị quyết số 71-NQ/TW về phát triển đột phá giáo dục và đào tạo đã được Bộ Chính trị ban hành.
Đây là những dấu mốc có ý nghĩa đặc biệt, đánh giá lại một cách toàn diện về giáo dục đại học, nhất là trong khoảng 10 năm trở lại đây. Qua đó, các định hướng lớn được xác lập nhằm nâng tầm giáo dục đại học Việt Nam trong bối cảnh hội nhập và cạnh tranh quốc tế. Có thể khẳng định, đây chính là cơ sở chính trị quan trọng nhất cho các định hướng phát triển của hệ thống trong thời gian tới.
Thứ hai, đó là sự hoàn thiện của hành lang pháp lý. Các chủ trương, định hướng lớn của Đảng và Nhà nước đã và đang tiếp tục được thể chế hóa thông qua nhiều văn bản quan trọng, trong đó có Luật Giáo dục đại học năm 2025 (Luật số 125/2025/QH15) được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025. Đây được xem là “chìa khóa” về mặt pháp lý nhằm tháo gỡ những vướng mắc, bất cập về thể chế, đồng thời tạo điều kiện để các cơ sở giáo dục đại học thực hiện tự chủ một cách thực chất hơn, phát triển năng động, hiệu quả và bền vững.
Thứ ba, đó là những tín hiệu tích cực từ thực tiễn tuyển sinh đại học. Năm 2025 chứng kiến một bức tranh tuyển sinh khá tươi sáng, không chỉ thể hiện ở quy mô tăng trưởng mà còn phản ánh sự chuyển biến trong tư duy lựa chọn ngành nghề của xã hội.
Kết quả thống kê cho thấy, năm 2025 cả nước có hơn 1,16 triệu thí sinh dự thi tốt nghiệp trung học phổ thông; trong đó gần 850.000 thí sinh đăng ký xét tuyển vào các cơ sở giáo dục đại học. Kết quả tuyển sinh tiếp tục ghi nhận trên 773.000 thí sinh trúng tuyển và hơn 625.000 thí sinh xác nhận nhập học.
So với các năm trước, các chỉ số tuyển sinh năm 2025 đều tăng ở mức hai con số, dao động từ khoảng 14-16% so với năm 2024 và trên 25% so với năm 2023, qua đó phản ánh nhu cầu học tập ở bậc đại học cũng như niềm tin của xã hội đối với giáo dục đại học đang tiếp tục được củng cố.
Đặc biệt, năm 2025 ghi nhận sự gia tăng mạnh mẽ của thí sinh đăng ký vào các ngành khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học (STEM). Số thí sinh đăng ký nguyện vọng 1 vào nhóm ngành STEM đạt 222.454, tăng 41.881 thí sinh so với năm trước. Trong đó, ngành Khoa học máy tính và Công nghệ thông tin có 54.359 thí sinh đăng ký nguyện vọng một, tăng 2.183 thí sinh so với năm 2024; ngành Trí tuệ nhân tạo thu hút 2.754 thí sinh đăng ký, cũng cao hơn nhiều so với năm trước. Không chỉ tăng về số lượng, chất lượng đầu vào cũng có sự cải thiện. Trong số 74 ngành có điểm chuẩn theo kết quả thi tốt nghiệp trung học phổ thông từ 28/30 điểm trở lên, có 50 ngành thuộc lĩnh vực sư phạm và 17 ngành thuộc nhóm kỹ thuật then chốt, công nghệ chiến lược như khoa học máy tính, trí tuệ nhân tạo, vi mạch bán dẫn, điều khiển và tự động hóa,...
Những con số này cho thấy sự chuyển dịch rõ nét trong lựa chọn ngành nghề của người học, phản ánh sự hưởng ứng tích cực của phụ huynh và học sinh đối với các chính sách ưu tiên phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo của Đảng và Nhà nước, cung cấp nguồn nhân lực trình độ cao cho đất nước.
Thứ tư, đó là việc từng bước nâng cao năng lực của toàn hệ thống. Giáo dục đại học Việt Nam đã đạt được những kết quả quan trọng cả về quy mô và chất lượng. Hiện nay, tỷ lệ sinh viên đại học đạt khoảng 225 sinh viên trên một vạn dân; tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ trở lên đạt khoảng 35,7%, mức cao nhất từ trước đến nay.
Đây là kết quả của quá trình đầu tư bền bỉ vào phát triển đội ngũ và nâng cao năng lực hệ thống, tạo nền tảng vững chắc cho việc nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học. Những chuyển biến này có thể xem là tín hiệu tích cực và đáng ghi nhận đối với giáo dục đại học Việt Nam trong năm 2025 và các năm tiếp theo.
Phóng viên: Ba đột phá chiến lược về thể chế, nguồn nhân lực và hạ tầng tiếp tục được nhấn mạnh tại Đại hội XIV, với yêu cầu triển khai mạnh mẽ, nhanh chóng và hiệu quả hơn.
Năm 2026 là năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV, theo Vụ trưởng, giáo dục đại học sẽ cụ thể hóa ba “đòn bẩy” này như thế nào để tạo ra những chuyển biến thực chất, thay vì chỉ dừng lại ở chủ trương và mục tiêu?
Vụ trưởng Nguyễn Tiến Thảo: Để ba đột phá chiến lược thực sự đi vào cuộc sống, vấn đề then chốt là phải cụ thể hóa bằng chính sách, nguồn lực và cơ chế triển khai rõ ràng, có lộ trình và có trọng tâm.
Trước hết, về thể chế, chúng ta bắt đầu triển khai Luật số 125/2025/QH15. Trên cơ sở Luật, hệ thống các văn bản dưới luật như Nghị định, Thông tư, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ và của Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ được ban hành để thể chế hóa đầy đủ, chi tiết các cơ chế, chính sách đầu tư phát triển giáo dục đại học.
Một trong những định hướng quan trọng là nâng cao chất lượng đầu vào, theo hướng đánh giá đúng năng lực của người học khi theo học các chương trình giáo dục đại học. Đồng thời, Nhà nước sẽ tập trung nguồn lực đầu tư cho những nhóm ngành đào tạo then chốt, đặc biệt là các lĩnh vực khoa học - công nghệ chiến lược như công nghệ bán dẫn, điện hạt nhân, đường sắt tốc độ cao, khoa học cơ bản và các ngành khoa học - kỹ thuật mũi nhọn khác.
Với các nhóm ngành này, Nhà nước triển khai nhiều hình thức hỗ trợ như học bổng, chính sách đặt hàng đào tạo, hỗ trợ học phí, tín dụng học tập, qua đó không chỉ khuyến khích người học đăng ký theo học mà còn bảo đảm điều kiện tài chính để sinh viên yên tâm học tập. Cùng với đó là tăng cường hợp tác quốc tế, tạo điều kiện để sinh viên được tham gia các chương trình đào tạo, trao đổi và học tập ở nước ngoài.
Đối với đào tạo sau đại học, đặc biệt là trình độ tiến sĩ, định hướng là tăng cường các chính sách hỗ trợ về học phí và kinh phí nghiên cứu cho nghiên cứu sinh, gắn chặt quá trình đào tạo với kết quả nghiên cứu khoa học tại các trường đại học. Theo đó, nghiên cứu sinh sẽ được hỗ trợ một phần, tiến tới hỗ trợ toàn bộ kinh phí thực hiện đề tài nghiên cứu, thí điểm ở một sốo lĩnh vực và ngành đào tạo trước khi mở rộng tới tất cả các lĩnh vực. Nghiên cứu sinh phải được hỗ trợ học bổng từ các nguồn lực khác nhau để đủ trang trải sinh hoạt phí, qua đó tạo điều kiện để toàn tâm toàn ý cho học tập và nghiên cứu tại các cơ sở giáo dục đại học.
Về nguồn lực và hạ tầng, Chính phủ và Nhà nước đã và đang triển khai các chính sách đầu tư có trọng điểm cho các cơ sở giáo dục đại học. Trong đó, việc xây dựng các trung tâm trí tuệ nhân tạo tại một số trường đại học là một ví dụ điển hình. Bên cạnh đó là đề án phát triển các trường đại học hàng đầu, hiện nay đã lựa chọn một số cơ sở như Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Bách khoa Hà Nội và Đại học Đà Nẵng để đầu tư trọng điểm, làm hình mẫu dẫn dắt hệ thống giáo dục đại học Việt Nam, hướng tới mục tiêu đạt thứ hạng cao trong khu vực châu Á vào năm 2030.
Đây là những chiến lược đầu tư phát triển có lộ trình, có trọng tâm và mang tính đồng bộ, nhằm hình thành các trung tâm hạt nhân có khả năng lan tỏa, dẫn dắt sự phát triển của toàn bộ hệ thống giáo dục đại học trong thời gian tới.
Song song với đó, Nhà nước cũng định hướng phát triển các cơ sở giáo dục đại học trọng điểm theo nhóm ngành đào tạo, lĩnh vực và vùng kinh tế - xã hội, như các trường trọng điểm đào tạo giáo viên, kỹ thuật công nghệ, hay các cơ sở giáo dục đại học tại các vùng động lực như Thủ đô, Đông Nam Bộ, Tây Nguyên và một số khu vực trọng điểm khác. Những cơ sở này sẽ được đầu tư theo mô hình dự án, từng bước phát triển thành nhóm trường đại học hàng đầu ở cấp quốc gia, tiến tới có thứ hạng cao trên các bảng xếp hạng khu vực và quốc tế.
Phóng viên: Bước sang năm 2026, cùng với các Nghị quyết trụ cột đang triển khai, nhiều luật quan trọng trong lĩnh vực giáo dục chính thức có hiệu lực, trong đó có Luật Giáo dục và Luật Giáo dục đại học số 125/2025/QH15, mở ra không gian chính sách rộng hơn cho các cơ sở giáo dục đại học.
Theo Vụ trưởng, các cơ sở giáo dục đại học cần thay đổi điều gì trong tư duy quản trị và tổ chức thực hiện để tận dụng tốt hơn không gian chính sách mới, thay vì chỉ dừng lại ở việc “tuân thủ quy định”?
Vụ trưởng Nguyễn Tiến Thảo: Có thể nói, đây là thời điểm then chốt để các cơ sở giáo dục đại học phát huy vai trò chủ động, sáng tạo trong quản trị và phát triển, trên nền tảng các quy định và chính sách mới.
Trước tiên, cần thay đổi căn bản nhận thức về mục tiêu chiến lược phát triển giáo dục trên cơ sở Nghị quyết số 71-NQ/TW. Nghị quyết số 71 không chỉ là chủ trương mà là những mục tiêu định lượng, nhiệm vụ giải pháp mang tính hành động cao và đo lường kết quả. Chúng ta đã đặt ra những mục tiêu rất cụ thể như xây dựng được một số đại học tinh hoa, như đến năm 2035 có ít nhất 4 trường vào Top 200 châu Á và ít nhất 1 trường vào Top 100 thế giới ở một số lĩnh vực. Đây là những mục tiêu mang tính định lượng, đòi hỏi các trường phải chủ động xây dựng chiến lược phát triển tương xứng.
Bên cạnh đó, các trường cần chủ động nắm bắt và khai thác hiệu quả các chính sách hỗ trợ được quy định trong Luật. Luật Giáo dục đại học số 125/2025/QH15 đã cụ thể hóa nhiều chính sách Nhà nước hỗ trợ các cơ sở giáo dục đại học nâng chuẩn, hỗ trợ cơ sở giáo dục đại học đào tạo một số ngành, lĩnh vực đạt tầm khu vực và quốc tế, đặc biệt trong phát triển cơ sở hạ tầng, đào tạo sau đại học, phòng thí nghiệm, hạ tầng kỹ thuật và nghiên cứu khoa học,...
Do đó, các trường cần nghiên cứu đầy đủ các quy định mới, nhất là các nội dung về chính sách ưu tiên của Nhà nước, đẩy mạnh hợp tác công tư, hỗ trợ triển khai hiệu quả hợp tác giữa Nhà nước, nhà trường, doanh nghiệp, chủ động xây dựng lộ trình phát triển. Trên cơ sở đó, mỗi cơ sở giáo dục đại học cần xác định lại sứ mạng, tầm nhìn và chiến lược phát triển, trả lời rõ câu hỏi: trường sẽ được định vị ở đâu trên bản đồ giáo dục đại học Việt Nam và trong không gian giáo dục toàn cầu.
Xa hơn, các trường cần xác định rõ những nhóm ngành, lĩnh vực mà Nhà nước ưu tiên đầu tư và đặt hàng, đồng thời lựa chọn những lĩnh vực thế mạnh để tập trung phát triển. Đó không chỉ là các ngành đang thu hút sự quan tâm lớn như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số, đường sắt tốc độ cao, năng lượng mới (điện hạt nhân, năng lượng xanh), đô thị thông minh, giao thông đô thị mà còn bao gồm cả khoa học cơ bản và các ngành kỹ thuật nền tảng, cũng như những ngành đào tạo chưa thu hút được người học trong thời gian qua nhưng có ý nghĩa chiến lược lâu dài. Việc tái cấu trúc danh mục ngành nghề theo hướng này sẽ giúp các trường vừa đáp ứng nhu cầu nhân lực chất lượng cao của xã hội, vừa tận dụng hiệu quả các chính sách hỗ trợ về đầu tư, học bổng, tín dụng và kinh phí nghiên cứu.
Và cuối cùng, một điểm đổi mới cần nhấn mạnh là: Luật số 125/2025/QH15, được thể chế hóa từ Nghị quyết 71-NQ/TW, đã định hình lại tự chủ đại học. Theo đó, mức độ tự chủ của cơ sở giáo dục đại học không còn phụ thuộc vào quy mô hay năng lực tự chủ tài chính. Các cơ sở giáo dục đại học hiện nay dù lớn hay nhỏ đều được trao quyền tự chủ như nhau.
Đây là đòn bẩy để các đơn vị chủ động huy động nguồn lực tổng hợp từ Nhà nước, doanh nghiệp và các đối tác quốc tế. Các trường nên phát triển nghiên cứu gắn thực tiễn, thực hiện chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp. Khi kết quả nghiên cứu thực sự "vị nhân sinh", phục vụ trực tiếp cho phát triển kinh tế - xã hội, tăng nguồn thu từ hoạt động khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo để có nguồn thu bền vững để tái đầu tư hạ tầng và nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên.
Phóng viên: Khi giáo dục đại học bước vào giai đoạn phát triển mới với nhiều kỳ vọng và trách nhiệm lớn hơn, Vụ trưởng muốn nhắn gửi điều gì tới sinh viên và đội ngũ giảng viên - những chủ thể trung tâm quyết định chất lượng và uy tín của giáo dục đại học Việt Nam trong thời gian tới?
Vụ trưởng Nguyễn Tiến Thảo: Đứng trước ngưỡng cửa của kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc với mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số, cá nhân tôi cũng như những người làm công tác quản lý giáo dục đều mang trong mình một khát vọng lớn lao: Đó là đưa giáo dục đại học phát triển vượt bậc về chất, xứng tầm với vai trò là cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước.
Điều đó đặt ra yêu cầu rất lớn đối với đội ngũ giảng viên và sinh viên. Người học không chỉ cần được trang bị kiến thức chuyên môn vững chắc, mà còn phải không ngừng nâng cao tính chuyên nghiệp, năng lực thích ứng, tinh thần đổi mới sáng tạo và trách nhiệm xã hội. Đối với đội ngũ giảng viên, bên cạnh chuyên môn, cần tiếp tục phát huy vai trò dẫn dắt học thuật, truyền cảm hứng và đồng hành cùng người học trong quá trình đào tạo và nghiên cứu.
Tôi mong rằng, trong thời gian tới, toàn hệ thống giáo dục đại học sẽ cùng đồng lòng, chung sức, tăng cường chia sẻ, hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau, để cùng vững bước đi lên. Chỉ khi mỗi cá nhân và mỗi cơ sở giáo dục đại học đều ý thức rõ trách nhiệm của mình, cùng hướng tới mục tiêu chung, thì giáo dục đại học Việt Nam mới có thể phát triển bền vững, khẳng định uy tín và vị thế trong khu vực và trên thế giới.
Phóng viên: Trân trọng cảm ơn Vụ trưởng!