Ngày 23/2, tức mùng 7 tháng Giêng năm Bính Ngọ, ngày làm việc đầu tiên của năm mới. Không khí khởi đầu bao giờ cũng gợi suy tư: năm mới sẽ làm gì khác đi, làm gì tốt hơn, làm gì có ý nghĩa hơn cho ngành, cho đất nước?
Trong mạch suy nghĩ ấy, đọc lại phần “Vào ngành giáo dục” (tr.186–206) trong hồi ký “Gia đình, bạn bè và đất nước” của tác giả Nguyễn Thị Bình (NXB Chính trị quốc gia Sự thật, năm 2025) đem đến nhiều chiêm nghiệm sâu sắc. Không chỉ là câu chuyện của một cá nhân, đó là lát cắt chân thực về một giai đoạn lịch sử đầy thách thức của giáo dục nước nhà sau ngày thống nhất.
Nguyễn Thị Bình không chỉ được biết đến như một nhà ngoại giao xuất sắc trên bàn đàm phán quốc tế, mà còn là nữ Bộ trưởng Giáo dục trong một thời kì đặc biệt khó khăn. Một người con của Quảng Nam – Đà Nẵng, cháu ngoại của cụ Phan Chu Trinh – nhà tư tưởng lớn, chí sĩ yêu nước của dân tộc. Dường như trong mạch nguồn gia phong ấy đã sớm hình thành một tinh thần cải cách và ý thức trách nhiệm sâu nặng với tương lai đất nước.
Sau năm 1975, giáo dục Việt Nam bước vào một thực tế không đơn giản: chương trình chưa thống nhất, sách giáo khoa khác biệt giữa hai miền, đội ngũ giáo viên thiếu và chưa đồng đều, cơ sở vật chất nghèo nàn. Mười năm trên cương vị Bộ trưởng là mười năm vừa ổn định, vừa tìm đường đổi mới trong bối cảnh nguồn lực hạn chế và cơ chế còn nhiều ràng buộc.
Điều đáng trân trọng trước hết là cách nhìn giáo dục một cách toàn diện và toàn cục. Không chỉ tập trung vào một cấp học hay một địa bàn thuận lợi, mà là từ miền xuôi đến miền ngược, từ phổ thông đến đại học, từ xóa mù chữ đến đào tạo nguồn nhân lực lâu dài. Xóa mù chữ khi ấy không chỉ là một chương trình giáo dục, mà là một chiến lược phát triển xã hội. Bởi không có tri thức phổ cập, không thể nói đến phát triển bền vững.
Một điểm rất đáng suy ngẫm là sự quan tâm đến trường sư phạm và khoa học giáo dục. Đổi mới giáo dục nếu không bắt đầu từ người thầy và nền tảng khoa học của nghề dạy học thì rất dễ rơi vào phong trào. Những quyết sách chú trọng củng cố hệ thống đào tạo giáo viên cho thấy một tầm nhìn căn cơ: muốn cải cách lâu dài, phải chăm lo gốc rễ.
Hồi ký cũng cho thấy sự đồng hành chặt chẽ với Công đoàn Giáo dục trong chăm lo đời sống giáo viên. Câu chuyện “đấu tranh để thuyết phục Chính phủ, các bộ, các ngành” để rồi năm 1983 Nhà nước quyết định điều chỉnh thang lương cho ngành giáo dục là một minh chứng rõ ràng. Ngành giáo dục đông, nguồn lực đất nước còn hạn hẹp, việc cải thiện chế độ không hề dễ dàng. Nhưng nếu không bảo vệ quyền lợi chính đáng của đội ngũ, mọi khẩu hiệu về vị thế “quốc sách hàng đầu” sẽ khó đi vào thực chất.
Việc đề nghị lấy 20/11 làm Ngày Nhà giáo Việt Nam, ban hành danh hiệu Nhà giáo Nhân dân, Nhà giáo Ưu tú… không chỉ mang tính tôn vinh. Đó là sự tái khẳng định vị thế xã hội của người thầy trong bối cảnh đất nước đang tái thiết. Tôn vinh để khích lệ, nhưng cũng để nhắc nhở xã hội rằng giáo dục là nền tảng của tương lai.
Những phong trào như trồng cây gây rừng, góp giấy vụn, thu gom lông vịt… ngày nay đọc lại có thể thấy giản dị, nhưng trong bối cảnh thời ấy, đó là những hoạt động vừa thiết thực vừa có giá trị giáo dục. Giáo dục không bó hẹp trong lớp học. Mỗi hành động tập thể đều có thể trở thành bài học về trách nhiệm, lao động và gắn kết cộng đồng. Chính cách làm ấy cho thấy tư duy giáo dục mọi lúc, mọi nơi.
Một điểm đáng chú ý khác trong hồi kí là việc đặt giáo dục trong bối cảnh rộng hơn của ngoại giao và quan hệ quốc tế. Giáo dục không tách rời chính trị, kinh tế và môi trường đối ngoại. Những mối quan hệ quốc tế được thiết lập, duy trì và phát triển đã góp phần mở ra cơ hội hợp tác, trao đổi, học hỏi kinh nghiệm. Điều đó gợi nhắc rằng cải cách giáo dục không thể diễn ra trong không gian khép kín.
Bối cảnh sau Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1986 mở ra thời kì đổi mới toàn diện đất nước. Giáo dục cũng đứng trước yêu cầu chuyển mình. So chiếu với hiện nay, thách thức đã khác: tự chủ đại học, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế sâu rộng, cạnh tranh nhân lực chất lượng cao. Nhưng bản chất của vấn đề vẫn còn nguyên: giáo dục cần tầm nhìn hệ thống, sự dũng cảm cải cách và sự đồng thuận xã hội.
Đọc lại những trang hồi ký đầu năm mới không phải để hoài niệm, càng không phải để so sánh hơn – kém giữa các thời kì. Điều quan trọng là nhận ra rằng mỗi giai đoạn lịch sử đều cần những con người dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm. Đột phá bao giờ cũng có cái giá, nhưng không có đột phá thì sẽ bị bỏ lại phía sau.
Giáo dục và đào tạo quyết định vận mệnh dài hạn của dân tộc. Điều đó không phải khẩu hiệu. Một quốc gia có thể thiếu nhiều nguồn lực, nhưng nếu thiếu một nền giáo dục vững vàng thì rất khó bền vững. Vì vậy, giáo dục không thể chỉ là việc của riêng ngành, mà cần sự quan tâm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội.
Nhân ngày làm việc đầu tiên của năm Bính Ngọ, nhìn lại câu chuyện của một nữ Bộ trưởng trong những năm tháng đầy gian khó để thêm trân quý những đóng góp thầm lặng mà sâu sắc. Lịch sử luôn khách quan. Ứng xử với lịch sử cũng cần sự khách quan, để từ đó học được điều hay, điều đúng và tiếp tục kiến tạo những giá trị mới cho hôm nay.
Giữ được tinh thần cải cách, đặt người thầy ở vị trí trung tâm, nhìn giáo dục trong tổng thể quốc gia – đó có lẽ là những gợi mở đáng suy ngẫm khi bắt đầu một năm mới. Và cũng là lời nhắc rằng tương lai đất nước, suy cho cùng, vẫn bắt đầu từ những quyết định giáo dục hôm nay.