Ngành Răng - Hàm - Mặt đang được đào tạo tại 21 cơ sở giáo dục công lập, tư thục ở cả 3 miền Bắc, Trung, Nam với sự chênh lệch đáng kể về điểm chuẩn đầu vào. Đối với các trường đại học công lập, chuyên ngành, điểm chuẩn dao động từ trên 23 điểm đến hơn 27 điểm. Trong khi đó, phần lớn các trường đại học tư thục, đa ngành điểm chuẩn ngành này là 20,5 điểm (bằng ngưỡng điểm tối thiểu Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa ra theo Quyết định 2100/QĐ-BGDĐT).
Các chuyên gia chỉ ra, những bất cập về chất lượng đào tạo bác sĩ nói chung và bác sĩ Răng - Hàm - Mặt nói riêng, đặt ra yêu cầu phải nhìn nhận thẳng thắn và có giải pháp căn cơ.
Đào tạo Răng - Hàm - Mặt phải chia thành các nhóm rất nhỏ
Đề cập đến vấn đề tuyển sinh ngành Răng - Hàm - Mặt, trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Thầy thuốc Ưu tú, Giáo sư, Tiến sĩ, Võ Trương Như Ngọc - Phó Viện trưởng Viện Đào tạo Răng - Hàm - Mặt, Trường Đại học Y Hà Nội thông tin: "Nhiều quốc gia trên thế giới tuyển sinh ngành Răng - Hàm - Mặt với quy mô hạn chế, phổ biến chỉ khoảng trên, dưới 100 sinh viên mỗi khóa, hiếm hoi mới có trường khoảng 150 sinh viên.
Trong khi đó, tại Việt Nam, quy mô tuyển sinh ở một số nơi khá lớn, vì vậy, cần cân nhắc giữa chỉ tiêu tuyển sinh với đội ngũ giảng viên và điều kiện cơ sở vật chất để không ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo và kết quả đào tạo có thể được các nước trong khu vực công nhận.
Thực tế, việc giảng dạy ngành Răng - Hàm - Mặt không thể thực hiện với số lượng quá lớn nhất là với đào tạo lâm sàng, thường phải chia thành các nhóm rất nhỏ, lý tưởng nên là 2–3 sinh viên trên một ghế răng để bảo đảm chất lượng hướng dẫn.
Trong trường hợp muốn nhiều sinh viên cùng quan sát một ca điều trị, cần thiết phải sử dụng hệ thống camera và thiết bị quay trong khoang miệng, sau đó truyền hình ảnh ra màn hình bên ngoài để sinh viên theo dõi. Đây là hình thức quan sát gián tiếp, giúp người học nhìn rõ thao tác của giảng viên; bởi nếu chỉ đứng xung quanh, việc quan sát trực tiếp trong khoang miệng là rất khó. Mặc dù vậy, quan sát trực tiếp vẫn là phương thức tối ưu, nhưng để làm được điều đó đòi hỏi số lượng người học trên mỗi ca phải được giới hạn".
Được biết, tại Viện đào tạo Răng - Hàm - Mặt, Trường Đại học Y Hà Nội, dù có đội ngũ giảng viên đông đảo, uy tín, cơ sở vật chất đảm bảo nhưng chỉ tuyển sinh khoảng 120 chỉ tiêu.
Chương trình đào tạo cũng đã đổi mới, lớp học được tổ chức theo nhóm nhỏ từ lý thuyết đến thực hành, thay vì giảng dạy đại trà cho lớp đông như trước đây. Cách làm này khiến giảng viên phải dành nhiều thời gian và công sức hơn, nhưng sinh viên được theo sát, thực hành nhiều.
Nói rõ hơn về việc thực hành với sinh viên, Tiến sĩ, Bác sĩ Nguyễn Hồng Nhung - Phó trưởng Bộ môn Phẫu thuật Miệng Hàm mặt, Khoa Răng - Hàm - Mặt, Trường Đại học Y Dược (Đại học Quốc gia Hà Nội), kiêm nghiệm chuyên môn tại Bệnh viện E khẳng định, cơ sở thực hành đóng vai trò then chốt trong đào tạo lĩnh vực sức khỏe nói chung và ngành Răng – Hàm – Mặt nói riêng.
Bởi đây là môi trường giúp người học tiếp cận đúng kiến thức, hình thành tư duy nghề nghiệp và tiếp thu kinh nghiệm thực tiễn từ các bác sĩ. Những kiến thức trong sách vở mang tính nền tảng, thực hành lâm sàng giúp sinh viên hiểu sâu bản chất và từng bước rèn luyện kỹ năng nghề.
Do đó, điều kiện tiên quyết để bảo đảm chất lượng đào tạo và năng lực hành nghề của bác sĩ Răng - Hàm - Mặt sau khi ra trường là các cơ sở đào tạo phải gắn kết chặt chẽ với nhiều cơ sở thực hành uy tín.
Cô Nhung phân tích: "Trên thế giới, việc một trường đại học đào tạo y không có bệnh viện trực thuộc là điều hiếm gặp. Bởi lẽ, đào tạo ngành này bắt buộc phải gắn liền với bệnh viện – nơi lý thuyết và thực hành được kết nối trong một hệ thống thống nhất.
Khi sinh viên được học lý thuyết tại trường nhưng thực hành ở một cơ sở lâm sàng độc lập rất dễ xảy ra tình trạng “lệch pha” về tư duy chuyên môn. Bên cạnh đó, thực tế hiện nay cho thấy nhiều trường cùng lúc đưa sinh viên đến một bệnh viện thực hành, dẫn tới quá tải. Số lượng sinh viên đông khiến cơ hội quan sát, tiếp cận mặt bệnh bị hạn chế; có sinh viên dù được đi thực hành tại cơ sở uy tín nhưng gần như không học hỏi được gì.
Ngược lại, nếu trường đại học có bệnh viện riêng hoặc hệ thống cơ sở thực hành gắn chặt với đào tạo, số lượng sinh viên sẽ được kiểm soát phù hợp. Người học được theo lâm sàng xuyên suốt, từng bước, đúng với các giảng viên đã trực tiếp giảng dạy trên giảng đường. Kiến thức lý thuyết và thực hành bổ trợ lẫn nhau, giúp sinh viên có nhiều cơ hội quan sát thực tế, thậm chí tham gia hỗ trợ điều trị dưới sự hướng dẫn của thầy cô.
Đây là nền tảng quan trọng để khi ra trường, các bác sĩ trẻ có thể tự tin hành nghề, đáp ứng yêu cầu chuyên môn và bảo đảm an toàn cho người bệnh".
Cần kiểm soát chặt chẽ ngay từ khâu mở ngành đào tạo
Dưới góc nhìn của Thầy thuốc Nhân dân, Giáo sư, Tiến sĩ Trịnh Đình Hải - Trưởng khoa Răng - Hàm - Mặt, Trường Đại học Y Dược (Đại học Quốc gia Hà Nội), nguyên Giám đốc Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương Hà Nội, cần tăng cường quản lý đào tạo ngành Răng - Hàm - Mặt ngay từ khâu mở ngành.
Vấn đề đầu tiên cần được kiểm soát chặt chẽ là đội ngũ cán bộ giảng dạy. Có không ít cơ sở đào tạo liệt kê danh sách nhiều giảng viên đầu ngành tham gia giảng dạy, song phần lớn không phải là giảng viên cơ hữu, làm việc kiêm nhiệm ở nhiều nơi hoặc chỉ “cho mượn tên” để hoàn thiện hồ sơ hoặc đội ngũ không còn trong độ tuổi lao động.
Tiếp theo là điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị thực hành, trong đó điểm khác biệt mang tính bắt buộc của ngành Răng – Hàm – Mặt là hệ thống mô phỏng tiền lâm sàng. Trước khi được tiếp xúc với người bệnh, sinh viên phải được rèn luyện đầy đủ các kỹ năng trên hệ thống mô phỏng để đạt độ thuần thục cần thiết. Đây là bước không thể thay thế và không thể rút gọn. Cơ sở giáo dục bắt buộc phải đảm bảo cơ sở vật chất cho việc này.
Với thực hành lâm sàng tại các bệnh viện, không thể chỉ dừng lại ở việc đưa danh sách bệnh viện trong đề án mở ngành. Thực tế, cần đánh giá cụ thể quy mô từng bệnh viện. Ví dụ, hiện tại khoa Răng - Hàm - Mặt đang tiếp nhận bao nhiêu cơ sở đào tạo, có đủ bác sĩ và máy ghế nha khoa để đáp ứng nhu cầu thực tập hay không? Cơ quan quản lý cần xây dựng định mức rõ ràng, căn cứ vào số lượng bác sĩ và số ghế nha khoa để quy đổi ra số sinh viên tối đa được tiếp nhận thực tập trong mỗi thời điểm, thay vì thẩm định mang tính hình thức.
Một vấn đề khác được thầy Hải đặc biệt lưu ý là việc sử dụng số liệu thống kê thiếu cập nhật trong các đề án mở ngành. Cách đây khoảng 30 năm, khi cả nước chỉ có một số cơ sở đào tạo ngành Răng - Hàm - Mặt, mỗi năm chưa đến 100 bác sĩ tốt nghiệp, tỷ lệ 1 bác sĩ phục vụ hàng trăm nghìn dân là thực tế.
Hiện nay số lượng cơ sở đào tạo đã tăng khiến tỷ lệ này thay đổi căn bản. Việc tiếp tục sử dụng số liệu cách đây vài chục năm để làm căn cứ cho các đề án mở ngành không còn phù hợp, dễ tạo ra những hồ sơ “có vẻ thuyết phục” nhưng không phản ánh đúng nhu cầu và thực trạng.
Ngoài ra, để nâng cao chất lượng đào tạo ngành Răng - Hàm - Mặt, Thầy thuốc Nhân dân, Giáo sư, Tiến sĩ Trịnh Đình Hải nhấn mạnh yếu tố đầu vào. Theo thầy, cần tuyển chọn thí sinh có năng lực học tập tốt, với điểm đầu vào phù hợp, tốt nhất là có điểm thi tốt nghiệp trung học phổ thông cao, nhằm bảo đảm sau 6 năm đào tạo, sinh viên có thể đáp ứng đầy đủ chuẩn đầu ra của bác sĩ Răng - Hàm - Mặt.
Chia sẻ rõ hơn về vấn đề giảng viên, Tiến sĩ, Bác sĩ Nguyễn Hồng Nhung nhấn mạnh, đào tạo Răng - Hàm - Mặt đòi hỏi phải có những quy chuẩn nghiêm ngặt và chỉ nên triển khai tại các cơ sở đủ điều kiện. Những đơn vị đào tạo lớn, chuyên ngành có lợi thế vượt trội về đội ngũ giảng viên giàu kinh nghiệm, uy tín chuyên môn cao. Phần lớn giảng viên vừa trực tiếp giảng dạy, vừa là bác sĩ lâm sàng giỏi, qua đó giúp sinh viên được truyền thụ kiến thức bài bản và kinh nghiệm thực tiễn.
Trong khi đó, không ít cơ sở đào tạo đa ngành, mở ngành đào tạo lĩnh vực sức khỏe nói chung và Răng - Hàm - Mặt nói riêng khi đội ngũ giảng viên cơ hữu còn mỏng, thiếu kinh nghiệm lâm sàng. Điều này đặt ra dấu hỏi lớn về chất lượng đào tạo, bởi tư duy nghề nghiệp và năng lực chuyên môn của bác sĩ chịu ảnh hưởng rất lớn từ người thầy.
“Nếu sinh viên được đào tạo bởi những bác sĩ có tư duy đúng đắn, nền tảng chuyên môn vững vàng, các em sẽ hình thành hướng tiếp cận, xử trí bệnh phù hợp, hạn chế tối đa rủi ro cho người bệnh. Ngược lại, khi người giảng dạy thiếu kinh nghiệm hoặc kiến thức không chắc, việc truyền đạt sẽ lệch lạc, dễ dẫn đến sai sót trên lâm sàng.
Điều nguy hiểm hơn là khi những quan điểm điều trị không chuẩn mực được lan truyền cho số lượng lớn người học, dần dần sẽ làm sai lệch nền tảng kiến thức y học, kéo theo nguy cơ gia tăng tai biến trong thực hành khám chữa bệnh. Bởi thế, việc kiểm soát chặt chẽ chất lượng đào tạo bác sĩ Răng - Hàm - Mặt là yêu cầu cấp thiết, không thể buông lỏng” - cô Nhung bày tỏ.
Cần có cơ chế kiểm tra, giám sát việc tổ chức đào tạo tại các cơ sở
Trao đổi về giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo Răng - Hàm - Mặt, Thầy thuốc Ưu tú, Giáo sư, Tiến sĩ Võ Trương Như Ngọc cho rằng, cần đối chiếu với các tiêu chuẩn đào tạo của các nước trong khu vực và trên thế giới, trong đó có quy mô tuyển sinh. Các cơ sở đào tạo trong nước cần cân nhắc giữa quy mô tuyển sinh với năng lực đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất và mục tiêu hội nhập quốc tế, để bảo đảm người học sau khi tốt nghiệp có thể đáp ứng các chuẩn nghề nghiệp và được công nhận rộng rãi ở các nước trong khu vực.
Yêu cầu quan trọng khác là tiếp tục đổi mới chương trình đào tạo theo hướng đào tạo dựa trên năng lực. Việc đổi mới không chỉ dừng lại ở nội dung chương trình mà cần thực hiện đồng bộ, từ phương thức quản lý, phương pháp giảng dạy đến công tác kiểm tra, lượng giá. Mục tiêu là truyền đạt kiến thức hiệu quả hơn, giúp người học hình thành năng lực thực hành vững vàng, đồng thời rèn luyện y đức và ý thức nghề nghiệp.
Để làm được điều này, việc nâng cao năng lực đội ngũ giảng viên là yếu tố then chốt. Một bác sĩ có thể giỏi chuyên môn nhưng để giảng dạy hiệu quả thì cần có phương pháp sư phạm phù hợp. Vì vậy, những bác sĩ tham gia giảng dạy không phân biệt lý thuyết hay thực hành cần phải được đào tạo bài bản về nghiệp vụ sư phạm và thường xuyên được bồi dưỡng, cập nhật kiến thức chuyên môn cũng như nghiệp vụ sư phạm.
Thầy Ngọc cũng khẳng định, phải tiếp tục đầu tư, nâng cấp cơ sở vật chất phục vụ đào tạo. Hiện nay, trên thế giới, nhiều cơ sở đào tạo đã sử dụng hệ thống mô phỏng hiện đại như mô phỏng ảo, cho phép ghi lại quá trình thực hành, chấm điểm tự động và phân tích những sai sót của người học từng bước để người học rút kinh nghiệm. Trường Đại học Y Hà Nội đã bước đầu triển khai các hệ thống này, tuy nhiên số lượng còn hạn chế.
Trong bối cảnh sinh viên chưa có chứng chỉ hành nghề nên cơ hội thực hành trực tiếp trên người bệnh còn bị giới hạn, việc đào tạo trên hệ thống mô phỏng càng trở nên quan trọng. Do vậy, cần tiếp tục đầu tư các hệ thống mô phỏng hiện đại để bảo đảm chất lượng đào tạo và năng lực thực hành của sinh viên trước khi bước vào môi trường nghề nghiệp thực tế.
Đặc biệt, thầy Ngọc khẳng định: "Cần có chuẩn đào tạo cơ bản để các cơ sở giáo dục phải bảo đảm được chuẩn đầu ra tối thiểu phù hợp với chuẩn năng lực thực hành nghề nghiệp sau khi tốt nghiệp. Công tác giám sát quá trình triển khai chương trình đào tạo cần được tăng cường. Một chương trình đào tạo có thể được xây dựng rất tốt trên giấy và được đánh giá đạt yêu cầu, nhưng nếu quá trình thực hiện không tuân thủ đầy đủ thì chất lượng đào tạo sẽ không bảo đảm. Vì thế, cần có cơ chế kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc tổ chức đào tạo tại các cơ sở, nhằm bảo đảm chương trình được triển khai đúng với mục tiêu và nội dung đã ban hành".
Thầy thuốc Ưu tú, Giáo sư, Tiến sĩ Võ Trương Như Ngọc còn cho biết thêm, việc tổ chức kỳ thi cấp chứng chỉ hành nghề y khoa quốc gia dự kiến triển khai trong thời gian tới là bước tiến rất quan trọng, góp phần phản ánh chất lượng đào tạo của các cơ sở đào tạo nhân lực trong lĩnh vực sức khỏe.
Giáo sư, Tiến sĩ, Thầy thuốc Ưu tú Võ Trương Như Ngọc - Phó Viện Trưởng viện Đào tạo Răng - Hàm - Mặt, Trường Đại học Y Hà Nội. Ảnh: NVCC.
Từ góc độ chuyên môn, Tiến sĩ, Bác sĩ Nguyễn Hồng Nhung đề xuất cần chuẩn hóa chương trình đào tạo ngành Răng – Hàm – Mặt trên phạm vi toàn quốc. Theo đó, chương trình học phải được thẩm định bởi một hội đồng chuyên môn chung, bảo đảm tính thống nhất về nội dung, khối lượng kiến thức và yêu cầu thực hành.
Nhất là cần siết chặt chuẩn đầu ra thông qua các kỳ thi độc lập, bao gồm cả lý thuyết và thực hành lâm sàng. Không phải mọi sinh viên sau 6 năm học đều mặc nhiên được hành nghề bác sĩ, mà chỉ những người đạt chuẩn năng lực chung mới được phép bước vào thực hành y khoa.
Cách này nhằm kiểm soát chất lượng bác sĩ trẻ sau khi ra trường, hạn chế rủi ro trong khám chữa bệnh và bảo đảm an toàn cho người bệnh.