Hàng loạt lĩnh vực trọng điểm thu hút nhân lực ngành Công nghệ thông tin

13/03/2026 06:22
Trần Trang

GDVN -Thị trường lao động ngành Công nghệ thông tin rất cạnh tranh, buộc người học phải có năng lực thích ứng và học tập suốt đời.

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra sâu rộng trên toàn cầu, ngành Công nghệ thông tin tiếp tục khẳng định triển vọng phát triển mạnh mẽ và bền vững. Sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, điện toán đám mây và an ninh mạng đang tái định hình nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội, đồng thời làm gia tăng nhu cầu nhân lực chất lượng cao.

Trước yêu cầu đó, các cơ sở giáo dục đại học chủ động rà soát, cập nhật chương trình đào tạo theo hướng bám sát nhu cầu thị trường và tăng cường gắn kết với doanh nghiệp, nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

Nhu cầu nhân lực tăng cao nhờ chuyển đổi số

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Tiến sĩ Phạm Kim Thư – Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ và Quản lý Hữu nghị nhận định, ngành Công nghệ thông tin tại Việt Nam tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng cao, được xác định là một trong những lĩnh vực kinh tế mũi nhọn trong Chiến lược chuyển đổi số quốc gia.

“Theo các số liệu công bố, doanh thu toàn ngành công nghiệp ICT những năm gần đây liên tục tăng trưởng ở mức hai chữ số, trong đó công nghiệp phần mềm và dịch vụ Công nghệ thông tin giữ vai trò chủ lực. Việt Nam cũng nhiều năm liền nằm trong nhóm quốc gia có tốc độ phát triển kinh tế số nhanh nhất khu vực Đông Nam Á.

Việc triển khai Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 đã tạo ra nhu cầu lớn về nguồn nhân lực Công nghệ thông tin ở cả khu vực công và tư. Báo cáo thị trường lao động của các đơn vị như TopDev và Navigos Group cho thấy, mỗi năm Việt Nam cần bổ sung hàng chục nghìn nhân sự Công nghệ thông tin mới, song nguồn cung hiện vẫn chưa đáp ứng đủ cả về số lượng lẫn chất lượng.

Những lĩnh vực được đánh giá là “điểm nóng” hiện nay gồm: Trí tuệ nhân tạo (AI) và Khoa học dữ liệu (Data Science) phục vụ tự động hóa, phân tích dữ liệu lớn trong tài chính, y tế, giáo dục, thương mại điện tử; An toàn, an ninh mạng (Cybersecurity) trong bối cảnh giao dịch số bùng nổ và nguy cơ tấn công mạng gia tăng; Điện toán đám mây (Cloud Computing) và hạ tầng số gắn với quá trình chuyển đổi số doanh nghiệp; phát triển phần mềm, ứng dụng di động, thương mại điện tử; cùng các lĩnh vực mới như Fintech, Blockchain, IoT. Giới chuyên gia nhận định, trong 5–10 năm tới, Công nghệ thông tin vẫn là ngành có triển vọng tích cực, đặc biệt khi kinh tế số được định hướng chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong GDP” – thầy Thư cho biết.

tai-xuong.png
Tiến sĩ Phạm Kim Thư - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Công nghệ và Quản lý Hữu nghị. Ảnh: NVCC.

Cùng bàn luận về chủ đề này, Tiến sĩ Phạm Xuân Lâm – Trưởng khoa, Khoa Công nghệ thông tin, Trường Công nghệ (Đại học Kinh tế Quốc dân) chỉ ra, ngành Công nghệ thông tin hiện nay không chỉ duy trì đà tăng trưởng, mà đang bước sang một giai đoạn phát triển mới với yêu cầu sâu hơn, phức tạp hơn và mang tính nền tảng cho toàn bộ nền kinh tế.

Tiến sĩ Lâm cho hay: “Nếu trước đây Công nghệ thông tin chủ yếu tập trung vào số hoá quy trình, vận hành hạ tầng công nghệ thì hiện nay doanh nghiệp đang chuyển mạnh sang tự động hoá, khai thác dữ liệu và triển khai trí tuệ nhân tạo. Điều này khiến vai trò của chuyên gia Công nghệ thông tin ngày càng mở rộng, không chỉ ở khâu phát triển phần mềm, vận hành hệ thống, tư vấn chuyển giao công nghệ, đổi mới sáng tạo mà phải là những người xây dựng năng lực công nghệ lõi cho doanh nghiệp.

Ở bình diện toàn cầu, Báo cáo Future of Jobs của Diễn đàn Kinh tế Thế giới chỉ ra rằng các xu hướng có tác động lớn nhất đến thị trường lao động trong giai đoạn 2025-2030 bao gồm AI và xử lý thông tin, tự động hoá quy trình, robot và nền tảng số. Đây đều là những lĩnh vực đòi hỏi đội ngũ Công nghệ thông tin có năng lực triển khai, vận hành và tối ưu hệ thống, chứ không chỉ dừng ở mức sử dụng công cụ.

Thực tiễn tại các doanh nghiệp mà Khoa Công nghệ thông tin có dịp trao đổi trong các hội thảo và tọa đàm chuyên môn cho thấy, nhu cầu nhân lực hiện tập trung mạnh vào các vị trí liên quan đến phát triển hệ thống dữ liệu, hệ thống thông minh, an toàn thông tin, hạ tầng số, DevOps và vận hành nền tảng AI. Đặc biệt, khi AI được đưa vào quy trình sản xuất – kinh doanh, doanh nghiệp cần rất nhiều kỹ sư Công nghệ thông tin để thiết kế, triển khai, giám sát và bảo đảm hệ thống hoạt động ổn định, an toàn và hiệu quả lâu dài”.

491809037-122124344168796977-5278703719732659015-n.jpg
Tiến sĩ Phạm Xuân Lâm – Trưởng khoa, Khoa Công nghệ thông tin, Trường Công nghệ (Đại học Kinh tế Quốc dân). Ảnh: NVCC.

Phó giáo sư, Tiến sĩ Trần Đăng Hưng – Trưởng khoa, Khoa Công nghệ phần mềm, Trường Công nghệ thông tin và Truyền thông, Đại học Công nghiệp Hà Nội khẳng định, ngành Công nghệ thông tin vẫn là một trong những lĩnh vực có tiềm năng tăng trưởng mạnh và ổn định trong trung và dài hạn.

“Có nhiều lý do cho nhận định này. Kinh tế số Việt Nam trong những năm gần đây luôn duy trì mức tăng trưởng hai con số và đóng góp ngày càng lớn vào GDP. Số lượng doanh nghiệp công nghệ số không ngừng gia tăng, nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu trong lĩnh vực phần mềm, dịch vụ số và giải pháp công nghệ.

Bên cạnh đó, quá trình chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ trong các lĩnh vực như ngân hàng, thương mại điện tử, giáo dục và y tế đã tạo ra nhu cầu nhân lực công nghệ ở hầu hết các ngành nghề trong đời sống xã hội. Điều này cho thấy Công nghệ thông tin hiện nay không còn là một lĩnh vực riêng lẻ, mà gần như đã trở thành hạ tầng của toàn bộ nền kinh tế.

Về các lĩnh vực điểm nóng thu hút nhân lực, chúng ta có thể thấy rõ thị trường lao động có xu hướng dịch chuyển sang những mảng có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao. Trí tuệ nhân tạo và khoa học dữ liệu đang được nhiều doanh nghiệp đầu tư nhằm phục vụ phân tích hành vi khách hàng, tối ưu vận hành và tự động hóa các quy trình sản xuất.

Bên cạnh đó, An toàn thông tin cũng là lĩnh vực có nhu cầu lớn khi các tổ chức ngày càng phụ thuộc vào hạ tầng số và dữ liệu. Tuy nhiên, theo tôi kỹ thuật phần mềm vẫn là một trong những nhóm ngành chiếm tỷ trọng tuyển dụng cao nhất, đặc biệt ở các vị trí phát triển web, mobile, backend và DevOps. Nhìn chung, thị trường lao động Công nghệ thông tin hiện nay đa dạng hơn trước, đòi hỏi nguồn nhân lực không chỉ đông về số lượng mà còn yêu cầu cao về chất lượng” - Phó giáo sư bày tỏ.

picture1-1835-1545.jpg
Phó giáo sư, Tiến sĩ Trần Đăng Hưng – Trưởng khoa, Khoa Công nghệ phần mềm, Trường Công nghệ thông tin và Truyền thông, Đại học Công nghiệp Hà Nội. Ảnh: NVCC.

Đào tạo không thể tách rời với thực tiễn doanh nghiệp

Tiến sĩ Phạm Kim Thư cho biết, trong bối cảnh công nghệ thay đổi nhanh, đào tạo Công nghệ thông tin không thể tiếp tục theo mô hình nặng lý thuyết, chậm cập nhật. Nhiều cơ sở giáo dục đại học đã chuyển hướng mạnh sang đào tạo gắn với thực tiễn và doanh nghiệp.

Do đó, xu hướng chung là đào tạo theo hướng “học để làm được việc”, rút ngắn khoảng cách giữa nhà trường và doanh nghiệp.

Nhà trường định kỳ cập nhật chương trình theo chuẩn đầu ra, bảo đảm gắn với nhu cầu của thị trường lao động. Tỷ lệ học phần thực hành, đồ án và dự án thực tế được tăng cường nhằm nâng cao kỹ năng nghề nghiệp cho sinh viên.

Nhà trường mời chuyên gia từ doanh nghiệp tham gia xây dựng chương trình và giảng dạy các chuyên đề chuyên sâu. Hoạt động hợp tác trong đào tạo, thực tập và tuyển dụng được đẩy mạnh, tạo điều kiện để sinh viên tham gia dự án thực tế từ năm thứ ba, thứ tư.

Bên cạnh kiến thức chuyên môn, chương trình còn tích hợp kỹ năng mềm, kỹ năng quản lý dự án và ngoại ngữ chuyên ngành. Mô hình học tập theo dự án (Project-based learning) được áp dụng rộng rãi. Đồng thời, các cơ sở đào tạo thúc đẩy chuyển đổi số trong giảng dạy thông qua hệ thống quản lý học tập (LMS), phòng thí nghiệm ảo và nền tảng điện toán đám mây.

Phó giáo sư, Tiến sĩ Trần Đăng Hưng cũng bày tỏ, trước sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ, các cơ sở đào tạo buộc phải chủ động đổi mới chương trình.

“Chương trình đào tạo được xây dựng theo chuẩn đầu ra dựa trên năng lực và có sự tham vấn thường xuyên của các doanh nghiệp trong lĩnh vực Công nghệ thông tin. Nội dung đào tạo được rà soát định kỳ để cập nhật những xu hướng mới như Trí tuệ nhân tạo, bảo mật dữ liệu, điện toán đám mây, đồng thời tăng cường học phần thực hành và dự án.

Sinh viên được yêu cầu tham gia thực tập tại trực tiếp tại doanh nghiệp trước khi tốt nghiệp, qua đó tiếp cận môi trường làm việc thực tế và nâng cao kỹ năng nghề nghiệp. Chúng tôi cũng mời chuyên gia từ doanh nghiệp tham gia giảng dạy chuyên đề, nhằm rút ngắn khoảng cách giữa nhà trường và thị trường lao động. Quan điểm của chúng tôi là phải kết hợp hài hòa giữa nền tảng lý thuyết vững chắc và kỹ năng ứng dụng thực tiễn” – thầy Hưng chia sẻ.

t95881.jpg
Sinh viên Trường Công nghệ thông tin và Truyền thông, Đại học Công nghiệp Hà Nội. Ảnh: Website nhà trường.

Theo Tiến sĩ Phạm Xuân Lâm, xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, Khoa Công nghệ thông tin xác định đào tạo không thể tách rời doanh nghiệp và công nghệ đang được triển khai ngoài thị trường.

Trong những năm gần đây, Khoa đã liên tục cập nhật chương trình đào tạo theo hướng tăng cường nền tảng, gắn với dự án thực tế và tiếp cận sớm các công nghệ mới như dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo. Bên cạnh các hoạt động đào tạo và nghiên cứu, Khoa triển khai các chương trình đào tạo hợp tác với doanh nghiệp, theo mô hình sinh viên vừa học tại trường, vừa học và làm việc tại doanh nghiệp công nghệ.

Thông qua mô hình này, sinh viên được tham gia trực tiếp vào các dự án thực tế, làm quen với quy trình làm việc chuyên nghiệp và yêu cầu cụ thể của thị trường lao động. Thực tế cho thấy, nhiều sinh viên đã có việc làm, được trả lương hoặc ký hợp đồng bán thời gian ngay từ khi còn đang học, đồng thời tích lũy kinh nghiệm thực tiễn song song với việc hoàn thành chương trình đào tạo tại Khoa. Đây là lợi thế rõ rệt giúp sinh viên rút ngắn thời gian thích nghi sau tốt nghiệp và tăng cơ hội được tuyển dụng chính thức ngay khi ra trường.

Bên cạnh chương trình đào tạo chính khóa, Khoa chú trọng xây dựng hệ sinh thái nền tảng số phục vụ học tập và nghiên cứu. Các nền tảng như Codelab, SmartDoc, ScoreUp do khoa phát triển không chỉ hỗ trợ luyện tập, kiểm tra, xây dựng học liệu số mà còn giúp sinh viên tiếp cận cách tổ chức hệ thống, dữ liệu và quy trình học tập hiện đại.

Đặc biệt, Khoa Công nghệ thông tin đang từng bước xây dựng các hệ thống trí tuệ nhân tạo hỗ trợ sinh viên học tập và nghiên cứu hiệu quả hơn, từ gợi ý tài liệu, hỗ trợ ôn tập, cho tới phân tích tiến độ học tập. Điểm quan trọng là sinh viên không chỉ là người sử dụng, mà còn trực tiếp tham gia vào quá trình thiết kế, phát triển và vận hành các hệ thống AI này trong các dự án học tập và nghiên cứu, qua đó làm quen sớm với tư duy xây dựng và quản trị nền tảng AI.

Song song với đó, các phòng Lab và nhóm nghiên cứu của Trường Công nghệ và Khoa Công nghệ thông tin, như các phòng nghiên cứu về công nghệ giáo dục, thuật toán và dữ liệu, đóng vai trò là môi trường để sinh viên tham gia dự án, seminar học thuật và nghiên cứu khoa học. Đây là nơi sinh viên được làm việc cùng giảng viên, học cách tiếp cận vấn đề một cách bài bản, kiểm chứng kết quả và phát triển sản phẩm có chiều sâu, đúng với yêu cầu của thị trường lao động hiện nay.

Theo thầy Lâm nhận định, thị trường lao động Công nghệ thông tin hiện nay cạnh tranh hơn trước, không phải vì thiếu việc làm, mà vì yêu cầu tuyển dụng ngày càng cao và mang tính chọn lọc. Báo cáo của Diễn đàn Kinh tế Thế giới cho thấy khoảng 39% bộ kỹ năng hiện tại của người lao động có thể thay đổi hoặc trở nên lỗi thời trong giai đoạn 2025–2030, điều này buộc người học phải có năng lực thích ứng và học tập suốt đời.

“Từ phản hồi của doanh nghiệp hợp tác với Khoa, có thể thấy bằng cấp vẫn là điều kiện cần, nhưng không còn là yếu tố quyết định duy nhất. Nhà tuyển dụng đặc biệt quan tâm đến những sinh viên có nền tảng vững chắc, hiểu bản chất vấn đề và có khả năng vận dụng công nghệ vào giải quyết bài toán thực tế. Trong bối cảnh AI phát triển mạnh, việc thành thạo các công cụ AI và biết cách xây dựng trợ lý ảo cá nhân để hỗ trợ học tập, lập trình, nghiên cứu là một lợi thế lớn. Tuy nhiên, điều quan trọng hơn là sinh viên phải biết kiểm chứng kết quả, hiểu rõ giới hạn của AI và chịu trách nhiệm về chất lượng sản phẩm của mình.

Một điểm được doanh nghiệp đánh giá rất cao là các dự án sinh viên thực hiện khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Những dự án được triển khai cùng bạn bè, giảng viên và trong các phòng lab không chỉ thể hiện năng lực kỹ thuật, mà còn cho thấy khả năng làm việc nhóm, tư duy hệ thống và kỷ luật nghề nghiệp. Bên cạnh đó, các “dấu vết năng lực” như hồ sơ GitHub, LinkedIn, bài viết kỹ thuật hay đóng góp học thuật và cộng đồng ngày càng trở thành tiêu chí quan trọng trong tuyển dụng, bởi chúng phản ánh quá trình học tập, thái độ nghề nghiệp và năng lực phát triển lâu dài của người học” – thầy chia sẻ.

15-ea1e699183.jpg
Sinh viên Trường Công nghệ (Đại học Kinh tế Quốc dân) tham gia Olympic Tin học Sinh viên Việt Nam năm 2025. Ảnh: Website nhà trường.

Cùng quan điểm, thầy Thư chỉ ra nhà tuyển dụng trong lĩnh vực Công nghệ thông tin không chỉ quan tâm đến bằng cấp mà đặc biệt chú trọng năng lực thực tế. Để tạo lợi thế cạnh tranh, sinh viên cần có sản phẩm cụ thể như portfolio, dự án GitHub, ứng dụng đã triển khai; khả năng tự học và cập nhật công nghệ mới; tư duy logic và kỹ năng giải quyết vấn đề; kỹ năng làm việc nhóm, giao tiếp; trình độ tiếng Anh chuyên ngành; cùng thái độ làm việc chuyên nghiệp, tinh thần kỷ luật.

“Có thể thấy, trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng cao, sinh viên ngành Công nghệ thông tin không chỉ dừng ở việc “biết” mà phải “làm được”. Triển vọng của ngành là rõ ràng, song yêu cầu về chất lượng nguồn nhân lực cũng ngày càng khắt khe. Đào tạo gắn với thực tiễn, cập nhật công nghệ liên tục và phát triển năng lực toàn diện cho người học được xem là chìa khóa để đáp ứng nhu cầu thị trường lao động trong kỷ nguyên số” – Phó Hiệu trưởng chia sẻ.

Trần Trang