Để hoàn thành mục tiêu phát triển nguồn nhân lực tinh hoa, Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội đang xây dựng dự thảo Quy định chính sách hỗ trợ đào tạo nghiên cứu sinh của Thành phố Hà Nội. Trong đó, đưa ra các tiêu chuẩn, quy trình xét chọn nghiên cứu sinh và mức hỗ trợ đối với hoạt động nghiên cứu.Việc Hà Nội xây dựng chính sách riêng cho đào tạo tiến sĩ trong giai đoạn 2026-2030 cho thấy, định hướng chủ động của địa phương trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.
Được biết, so với đề án "Nâng cao năng lực đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục đại học đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo giai đoạn 2019-2030" (gọi tắt là Đề án 89) do Chính phủ phê duyệt ngày 18/1/2019 được triển khai nhằm mục tiêu nâng cao trình độ đội ngũ giảng viên đại học, thông qua đào tạo tiến sĩ trong và ngoài nước, với nguồn ngân sách trung ương và cơ chế tuyển chọn, cử đi đào tạo trên phạm vi cả nước, dự kiến Quy định của Hà Nội không chỉ mở rộng phạm vi hỗ trợ mà còn đặt ra những tiêu chí cụ thể, gắn nghiên cứu với các bài toán lớn của Thủ đô.
Hà Nội mở rộng diện hỗ trợ nhưng đặt ra tiêu chuẩn cao hơn cho nghiên cứu sinh
So với Đề án 89, mức hỗ trợ được nêu trong dự thảo đã vượt trội hơn hẳn nhưng cũng yêu cầu nghiên cứu sinh phải đáp ứng nhiều điều kiện.
Được hỗ trợ tài chính, nghiên cứu sinh có thể yên tâm theo đuổi đề tài nghiên cứu khoa học
Chia sẻ về quá trình học tiến sĩ với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, anh Đỗ Trọng Tú, nghiên cứu sinh năm nhất ngành Kỹ thuật cơ khí động lực, Trường Đại học Giao thông Vận tải cho biết: "Qua quá trình tìm hiểu, học tập, tôi thấy chi phí chương trình học tiến sĩ tại Việt Nam khá lớn, phụ thuộc vào một số yếu tố như lĩnh vực nghiên cứu, yêu cầu của cơ sở đào tạo, tính chất của đề tài nghiên cứu".
Với vai trò là nghiên cứu sinh ngành Kỹ thuật cơ khí động lực, anh Tú chỉ ra một số khoản chi phí học tập, nghiên cứu, như sau:
Thứ nhất về học phí, đây là khoản chi phí cố định và bắt buộc. Tùy theo quy định của từng trường, mức học phí trung bình/năm học dao động khoảng từ 30-40 triệu đồng. Như vậy, tổng chi phí toàn khóa (thường kéo dài 3-4 năm) khoảng từ 90-160 triệu đồng.
Thứ hai là chi phí nghiên cứu thực nghiệm. Đối với các ngành Kỹ thuật như cơ khí, Điện tử, Công nghệ sinh học… đây là khoản chi lớn nhất và khó dự toán nhất trong toàn bộ quá trình đào tạo tiến sĩ.
Với đề tài yêu cầu thử nghiệm hay thực nghiệm, việc xây dựng mô hình thử nghiệm, mua sắm cảm biến, thiết bị đo đạc, linh kiện chế tạo tiêu tốn từ 100-150 triệu đồng. Với nghiên cứu phức tạp hơn, đòi hỏi phải thuê phòng thí nghiệm chuyên dụng hoặc hợp tác với đơn vị bên ngoài, chi phí có thể lên tới 200-300 triệu đồng, thậm chí cao hơn nếu nghiên cứu kéo dài và cần nhiều lần thử nghiệm để đảm bảo độ tin cậy của kết quả.
Thứ ba là chi phí tài liệu và học thuật. Để theo kịp xu hướng nghiên cứu của thế giới, nghiên cứu sinh cần tiếp cận các tạp chí, sách chuyên khảo quốc tế. Việc mua tài liệu bản quyền, phần mềm chuyên dụng, truy cập cơ sở dữ liệu khoa học thường tiêu tốn khoảng 30-50 triệu đồng/khóa học.
Thứ tư là chi phí công bố quốc tế. Tại điểm c, Điều 14, Thông tư 18/2021/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo về Quy chế tuyển sinh và đào tạo trình độ tiến sĩ quy định nghiên cứu sinh phải đáp ứng yêu cầu: "Là tác giả chính của báo cáo hội nghị khoa học, bài báo khoa học được công bố trong các ấn phẩm thuộc danh mục WoS/Scopus, hoặc chương sách tham khảo do các nhà xuất bản quốc tế có uy tín phát hành, hoặc bài báo đăng trên các tạp chí khoa học trong nước được Hội đồng Giáo sư Nhà nước quy định khung điểm đánh giá tới 0,75 điểm trở lên theo ngành đào tạo, hoặc sách chuyên khảo do các nhà xuất bản có uy tín trong nước và quốc tế phát hành; các công bố phải đạt tổng điểm từ 2,0 điểm trở lên tính theo điểm tối đa do Hội đồng Giáo sư Nhà nước quy định cho mỗi loại công trình (không chia điểm khi có đồng tác giả), có liên quan và đóng góp quan trọng cho kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận án".
Một nghiên cứu có tính mới thường được khuyến khích trình bày tại hội thảo, hội nghị uy tín để nhận phản biện từ chuyên gia trước khi phát triển thành bài báo trên tạp chí quốc tế. Tuy nhiên, chi phí này không hề nhỏ. Trong đó, lệ phí tham dự hội nghị dao động từ 300-600 USD (khoảng 15 triệu đồng), chưa kể chi phí đi lại, ăn ở. Với bài báo đăng trên tạp chí thuộc danh mục WoS, phí xử lý (APC) dao động từ 1.000-3.000 USD (khoảng từ 25-75 triệu đồng), thậm chí trên 2.500 USD (khoảng 65 triệu đồng) với tạp chí nhóm Q1, Q2.
Theo Thông tư 18/2021/TT-BGDĐT, nghiên cứu sinh phải đạt tối thiểu 2 điểm công bố, điều này đồng nghĩa với việc họ phải chi trả khoảng từ 100-200 triệu đồng cho khoản chi phí này. Vì vậy, đa phần nghiên cứu sinh phải xoay xở từ tiết kiệm cá nhân, gia đình hoặc trông chờ vào nguồn kinh phí eo hẹp từ đề tài cấp cơ sở.
Theo anh Tú, bên cạnh áp lực về tài chính, nghiên cứu sinh phải đối mặt với áp lực về công bố quốc tế. Quy trình phản biện của các tạp chí quốc tế ngày càng khắt khe. Một bài báo có thể bị từ chối nhiều lần, chỉnh sửa qua nhiều vòng, kéo dài hàng năm. Trong khi đó, thời gian đào tạo có hạn, không có công bố đồng nghĩa không thể bảo vệ luận án, từ đó tạo ra tâm lý nặng nề cho nghiên cứu sinh, khiến nhiều người rơi vào trạng thái lo âu, mất ngủ kéo dài, thậm chí trầm cảm.
Ngoài ra, đa số nghiên cứu sinh thường ở độ tuổi từ 25-35 tuổi. Đây là giai đoạn gánh nhiều trách nhiệm gia đình, con cái, việc vừa học tập, làm nghiên cứu vừa lo cuộc sống, xoay xở kinh phí học thuật khiến nhiều nghiên cứu sinh rơi vào trạng thái quá tải. Nguồn thu nhập từ việc trợ giảng hay tham gia đề tài nghiên cứu không ổn định và không đủ trang trải cuộc sống.
Đặc biệt áp lực về định hướng nghiên cứu và sự thiếu vắng cơ hội kết nối thực tiễn cũng là một vấn đề lớn. Tiến sĩ được đào tạo để phát triển tư duy logic hệ thống và năng lực phát hiện, giải quyết vấn đề một cách độc lập, sáng tạo. Vì vậy, nghiên cứu thường đi theo hai hướng là nghiên cứu cơ bản nhằm tạo ra tri thức mới, được ghi nhận qua công bố quốc tế; hoặc nghiên cứu ứng dụng, gắn với nhu cầu doanh nghiệp, xã hội, được kiểm chứng bằng thí nghiệm và bảo hộ dưới dạng sáng chế, giải pháp hữu ích.
Nghiên cứu sinh chủ yếu làm việc trong môi trường học thuật khép kín, ít được tiếp cận những bài toán "nóng" từ sản xuất, kinh doanh. Ngay cả khi chọn hướng ứng dụng, đề tài cũng thiếu nền tảng thực tiễn và sự đồng hành của doanh nghiệp nên thực tế, không ít luận án tiến sĩ đang ở trạng thái "treo lơ lửng".
Với những phân tích trên, theo anh Tú, việc Thành phố Hà Nội dự kiến xây dựng chính sách hỗ trợ đào tạo 1.000 tiến sĩ giai đoạn 2026-2030 với tổng nguồn lực dự kiến cho chương trình này trong 5 năm khoảng hơn 300 tỷ đồng, bình quân mỗi năm khoảng hơn 60 tỷ đồng là chính sách có tính đột phá, trực tiếp giảm áp lực tài chính cho đội ngũ nhà khoa học trẻ.
Theo anh Tú, trong bối cảnh chi phí sinh hoạt ngày càng tăng, mức hỗ trợ 15 triệu đồng/tháng với học bổng đào tạo tuy chưa quá cao nhưng đủ để nghiên cứu sinh đảm bảo các nhu cầu thiết yếu như thuê nhà, ăn uống, đi lại. Quan trọng hơn, khoản hỗ trợ này tạo điều kiện để nghiên cứu sinh tập trung toàn bộ thời gian và trí lực cho công việc chuyên môn, thay vì phải phân tán cho việc làm thêm nhằm trang trải cuộc sống. Khi gánh nặng "cơm áo gạo tiền" được tháo gỡ, chất lượng và chiều sâu của công trình nghiên cứu sẽ được nâng lên rõ rệt.
Sự hỗ trợ này không chỉ mang ý nghĩa vật chất mà còn là thông điệp thể hiện sự ghi nhận của xã hội đối với đội ngũ lao động trí thức và những hy sinh thầm lặng của họ trong hành trình theo đuổi khoa học.
Khi Nhà nước và thành phố Hà Nội sẵn sàng đầu tư nguồn lực cho đào tạo nhân lực chất lượng cao, điều đó cho thấy sự coi trọng thực chất đối với đội ngũ nghiên cứu trẻ. Tác động tinh thần từ chính sách sẽ giúp nghiên cứu sinh thêm vững tin, bền bỉ theo đuổi con đường học thuật nhiều áp lực và thử thách.
Không dừng lại ở đó, mức hỗ trợ này còn là "điểm sáng" trong chiến lược thu hút nhân tài, nhất là với học viên đang cân nhắc giữa đi làm và học lên tiến sĩ. Đồng thời, chính sách góp phần lựa chọn được những người thực sự có năng lực và đam mê nghiên cứu.
Cùng chia sẻ về vấn đề này, chị Nguyễn Hồng Nhung, nghiên cứu sinh năm cuối của chương trình đào tạo tiến sĩ hệ 3 năm ngành Công nghệ sinh học nông, y, dược (Pharmaceutical, Medicinal and Agricultural Biotechnology), Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội cho biết, hiện mức học phí chương trình tiến sĩ mà chị đang theo học là 18,64 triệu đồng/năm.
"Do đang công tác tại Viện Sinh học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam nên phần lớn chi phí thực hiện thí nghiệm, tài liệu và hoạt động nghiên cứu của tôi đều nằm trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu của viện nên không phải chi trả khoản phí này. Ngoài ra, sự hỗ trợ của giảng viên hướng dẫn tại viện nghiên cứu cho chi phí công bố quốc tế cũng giúp giảm bớt gánh nặng cho tôi khá nhiều.
Tuy nhiên, yêu cầu đầu ra tối thiểu 2 bài báo quốc tế với vai trò tác giả chính là áp lực không nhỏ với nghiên cứu sinh, do kinh phí công bố tại các tạp chí quốc tế uy tín dao động từ 500-4.000 USD/bài (khoảng 13-105 triệu đồng)", chị Nhung bày tỏ.
Chị Nhung cho biết thêm, trong quá trình học, nghiên cứu sinh phải đối mặt nhiều thách thức, từ đảm bảo tính mới của đề tài, áp lực thời gian, đến việc duy trì thu nhập trong khi vẫn tập trung cho nghiên cứu. Trong đó, khó khăn nhất là bài toán về tài chính. Thu nhập hạn chế không chỉ ảnh hưởng đời sống sinh hoạt mà còn tác động đến tâm lý, từ đó chi phối tiến độ và chất lượng nghiên cứu. Với nghiên cứu sinh trong nước, nguồn học bổng khá ít, chủ yếu đến từ một số quỹ như Vingroup, Odon-Vallet hoặc hỗ trợ riêng từ giảng viên hướng dẫn. Vì vậy, mức thu nhập hàng tháng của nhiều nghiên cứu sinh ở mức thấp và thiếu ổn định.
Việc Hà Nội dự kiến hỗ trợ học bổng đào tạo cho nghiên cứu sinh ở mức 15 triệu đồng/tháng là khá phù hợp với mặt bằng chi phí sinh hoạt hiện nay, góp phần tạo điểm tựa tài chính để nghiên cứu sinh yên tâm theo đuổi con đường học thuật lâu dài.
Bên cạnh đó, trong bối cảnh các tạp chí khoa học quốc tế có xu hướng chuyển dịch hoàn toàn theo hình thức "open access" và chi phí công bố do nhóm tác giả chi trả, việc thành phố dự kiến hỗ trợ 100% phí công bố trên các tạp chí thuộc danh mục Web of Science khi nghiên cứu sinh là tác giả chính hoặc tác giả liên hệ là tín hiệu tích cực đối với nghiên cứu sinh và nhóm nghiên cứu.
Thực tế, chi phí đăng bài trên các tạp chí thứ hạng cao thường ở mức rất lớn so với thu nhập bình quân trong nước. Việc hỗ trợ toàn bộ phí công bố, không áp trần kinh phí, giúp nghiên cứu sinh yên tâm theo đuổi đề tài và mạnh dạn lựa chọn tạp chí uy tín phù hợp với chất lượng nghiên cứu, thay vì phải cân nhắc do áp lực tài chính.
"Dự thảo là bước đi đúng đắn của thành phố trong chiến lược xây dựng đội ngũ nhà khoa học cho Hà Nội và cả nước. Tuy nhiên, dưới góc độ một nhà khoa học, tôi cho rằng, chính sách hiện chủ yếu ưu tiên cho nghiên cứu sinh theo hướng ứng dụng. Trong khi đó, để khoa học phát triển bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế, nghiên cứu cơ bản giữ vai trò nền tảng, dù hiệu quả thực tiễn không phải lúc nào cũng dễ đo đếm. Việc thiên về hỗ trợ nghiên cứu ứng dụng có thể ảnh hưởng đến định hướng học thuật của nghiên cứu sinh - lực lượng sẽ trở thành các nhà khoa học chủ chốt trong tương lai", chị Nhung nhấn mạnh.
Cần xem xét tiêu chuẩn tuyển chọn nghiên cứu sinh còn tối thiểu 18 tháng đào tạo
Một trong những tiêu chuẩn tuyển chọn nghiên cứu sinh được nêu trong dự thảo là "Nghiên cứu sinh đáp ứng điều kiện tuyển sinh của chương trình đào tạo; Đạt trình độ ngoại ngữ tương đương bậc 5/6 theo Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam; được cơ sở đào tạo dự kiến tiếp nhận học chính thức trong năm đăng ký tuyển chọn hoặc năm kế tiếp liền kề; hoặc đang theo học chương trình đào tạo tiến sĩ phải còn thời gian học tập, nghiên cứu ít nhất từ 18 tháng trở lên tính đến thời điểm tham gia tuyển chọn".
Góp ý thêm cho dự thảo, anh Tú cho rằng quy định nghiên cứu sinh "đang theo học chương trình đào tạo tiến sĩ phải còn thời gian học tập, nghiên cứu ít nhất từ 18 tháng trở lên tính đến thời điểm tham gia tuyển chọn", cần được xem xét và điều chỉnh, bởi việc này có thể tạo ra bất cập, làm giảm tính hiệu quả của chính sách.
Hà Nội dự kiến hỗ trợ đào tạo 1000 tiến sĩ giai đoạn 2026-2030 gắn với các bài toán lớn của Thủ đô
Quy định này vô tình loại bỏ nghiên cứu sinh đã có nền tảng và kết quả nghiên cứu ban đầu - những người đã hoàn thành 1-2 năm đầu tiên của chương trình học, có định hướng nghiên cứu rõ ràng, đã xây dựng được cơ sở lý thuyết vững chắc, thậm chí có những công bố bước đầu. Họ đang ở giai đoạn "chín" để bứt tốc, tập trung hoàn thiện luận án và tạo ra những sản phẩm nghiên cứu chất lượng cao. Việc loại họ khỏi diện hỗ trợ chỉ vì thời gian còn lại ít hơn 18 tháng là sự lãng phí nguồn lực và cơ hội. Thay vì đầu tư từ đầu, thành phố có thể "tiếp sức" cho họ ở giai đoạn nước rút, giúp họ về đích hiệu quả và tạo ra giá trị rõ nét hơn.
Ở giai đoạn cuối, nghiên cứu sinh thường tập trung vào việc hoàn thiện sản phẩm, chạy thử nghiệm, viết báo cáo tổng kết. Đây là giai đoạn cần nhiều kinh phí nhất cho các thí nghiệm cuối cùng, xử lý số liệu hoặc hoàn thiện mô hình. Hỗ trợ lúc này sẽ tạo ra hiệu quả tức thì, giúp đề tài tiềm năng sớm hoàn thành cũng như có thể chuyển giao cho doanh nghiệp, ứng dụng vào thực tế.
Quy định cứng về mốc 18 tháng cũng tạo ra sự bất bình đẳng giữa các nghiên cứu sinh. Người mới nhập học với người đã đi được nửa chặng đường, có thành tích rõ ràng, lại bị loại chỉ vì thời gian còn lại ít hơn 18 tháng. Cách tính này dễ gây tâm lý mất động lực đúng vào giai đoạn quan trọng nhất của hành trình nghiên cứu.
Hơn nữa, quy định chưa tính đến tính linh hoạt của chương trình tiến sĩ giữa các lĩnh vực, thời gian đào tạo khác nhau giữa các trường, thậm chí có thể được gia hạn vì lý do khách quan.
Ngoài ra, mức hỗ trợ tối đa 50 triệu đồng/năm cho hoạt động nghiên cứu khoa học là hợp lý và thiết thực ở giai đoạn đầu, nhưng cần được xem xét linh hoạt theo từng lĩnh vực. Khoản kinh phí này giúp nghiên cứu sinh chủ động hơn trong triển khai hoạt động nghiên cứu như mua sắm vật tư tiêu hao, linh kiện thay thế, gia công chi tiết nhỏ, tham gia hội thảo...
Tuy nhiên, với nghiên cứu đòi hỏi thiết bị đắt tiền, thí nghiệm quy mô lớn, khảo sát thực địa dài ngày, mức hỗ trợ 50 triệu đồng/tháng là chưa đủ. Do đó, cần có cơ chế phối hợp giữa chính sách này với các nguồn quỹ khác như đề tài cấp Nhà nước, cấp Bộ, hợp tác với doanh nghiệp. Theo đó, nghiên cứu sinh có thể được tham gia với tư cách là thành viên chính trong đề tài nghiên cứu ứng dụng do thành phố đặt hàng.
Anh Tú cũng cho rằng, hỗ trợ tài chính là điều kiện cần, nhưng chưa đủ để tạo nên một nghiên cứu sinh xuất sắc. "Chất xám", "môi trường", "cơ hội" là những yếu tố then chốt quyết định sự thành công. Vì vậy, trước hết cần hỗ trợ về môi trường và kết nối nghiên cứu để nghiên cứu sinh có nền tảng phát triển. Trong đó, cần cơ chế cho nghiên cứu sinh tiếp cận phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia, trường đại học lớn, viện nghiên cứu trên địa bàn; xây dựng mạng lưới phòng thí nghiệm dùng chung với thủ tục gọn nhẹ, chi phí ưu đãi.
Song song với đó, cần tăng cường kết nối doanh nghiệp, tạo điều kiện để nghiên cứu sinh thực tập, triển khai một phần nghiên cứu tại khu công nghiệp, khu công nghệ cao; đồng thời tổ chức diễn đàn kết nối cung - cầu để đề tài xuất phát từ nhu cầu thực tiễn.
Hỗ trợ giao lưu học thuật quốc tế thông qua hội nghị uy tín, khóa học ngắn hạn, chương trình trao đổi tại các đại học hàng đầu, giúp nghiên cứu sinh nâng cao trình độ và mở rộng tầm nhìn.
Đặc biệt, cần hỗ trợ nghiên cứu sinh về kỹ năng mềm và phát triển chuyên môn như kỹ năng viết và công bố quốc tế, kỹ năng xây dựng và quản trị đề tài nghiên cứu, kỹ năng phản biện và tư duy độc lập.
Không chỉ vậy, cần chú trọng hỗ trợ tinh thần và xây dựng cộng đồng cho nghiên cứu sinh. Thành phố Hà Nội nên tổ chức các hoạt động kết nối, giao lưu định kỳ giữa các nghiên cứu sinh thuộc diện hỗ trợ nhằm tạo ra mạng lưới chia sẻ kinh nghiệm và thúc đẩy trao đổi liên ngành. Đồng thời, thiết lập cơ chế cố vấn và tư vấn tâm lý với sự đồng hành của nhà khoa học giàu kinh nghiệm, giúp nghiên cứu sinh được định hướng, động viên và tháo gỡ khó khăn kịp thời.