Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư số 09/2026/TT-BGDĐT ngày 26/2/2026 quy định tổ chức thi đánh giá năng lực ngoại ngữ và tổ chức thi đánh giá năng lực tiếng Việt. Thông tư có nhiều điểm mới quan trọng, góp phần hoàn thiện hành lang pháp lí, nâng cao chất lượng tổ chức thi, tăng cường chuyển đổi số và thúc đẩy hội nhập quốc tế trong lĩnh vực khảo thí.
Thông tư số 09 đã tích hợp đầy đủ các quy định về thi đánh giá năng lực ngoại ngữ trước đây được ban hành tại Thông tư số 23/2017/TT-BGDĐT ngày 29/9/2017 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo (được sửa đổi, bổ sung tại Thông tư số 24/2021/TT-BGDĐT ngày 08/9/2021) và các quy định về thi đánh giá năng lực tiếng Việt tại Thông tư số 27/2021/TT-BGDĐT ngày 07/10/2021 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy chế thi đánh giá năng lực tiếng Việt theo Khung năng lực tiếng Việt dùng cho người nước ngoài.
Việc tích hợp này góp phần tạo thuận lợi hơn cho các đơn vị trong quá trình tổ chức thi, đồng thời giảm thiểu số lượng văn bản quy phạm pháp luật cần ban hành.
Bên cạnh việc kế thừa những nội dung, quy trình và quy định trước đây đã ổn định, thông tư mới cũng quy định rõ việc chịu trách nhiệm toàn diện của các đơn vị trong tổ chức thi; yêu cầu các đơn vị tổ chức thi ban hành Quy chế về công tác tổ chức thi tại đơn vị mình, bảo đảm có các thông tin cốt lõi như: quy định về công tác tổ chức, hoạt động và liên kết; công tác tài chính; công tác công khai thông tin.
Ngoài ra, Thông tư quy định việc tăng cường chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ thông tin trong các khâu của công tác tổ chức thi; đưa ra các giải pháp tổ chức thi bảo đảm an toàn, khách quan, công bằng và nghiêm túc; phân công rõ trách nhiệm các bộ phận tham gia tổ chức thi; bảo mật đề thi trước, trong và sau các đợt tổ chức thi.
Đáng chú ý, Thông tư cho phép các đơn vị liên kết để mở rộng quy mô tổ chức thi (có thể tổ chức thi ở nước ngoài), phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế hiện nay.
Đồng thời, Thông tư khuyến khích, hỗ trợ các cơ sở giáo dục Việt Nam thành lập phân hiệu, mở văn phòng đại diện hoặc triển khai chương trình giáo dục ở nước ngoài; đẩy mạnh hợp tác, mở rộng giảng dạy tiếng Việt, lan tỏa các giá trị văn hóa, truyền thống Việt Nam tại nước ngoài, nhất là trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài (theo tinh thần Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo), qua đó tạo điều kiện để các cơ sở giáo dục được tổ chức thi đánh giá năng lực tiếng Việt ở nước ngoài.
Phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng và tiêu chuẩn đơn vị tổ chức thi
Thông tư quy định về tiêu chuẩn của đơn vị tổ chức thi đánh giá năng lực ngoại ngữ theo Khung năng lực ngoại ngữ dùng cho Việt Nam và tổ chức thi đánh giá năng lực tiếng Việt theo Khung năng lực tiếng Việt dùng cho người nước ngoài; trách nhiệm của đơn vị tổ chức thi, đơn vị liên kết tổ chức thi và cơ quan quản lý nhà nước có liên quan.
Thông tư này áp dụng với: Thứ nhất, các cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục khác có hoạt động giáo dục đại học có đào tạo trình độ đại học ngành ngoại ngữ; ngành Văn học, Sư phạm Ngữ văn, Tiếng Việt và văn hóa Việt Nam, Ngôn ngữ học, Việt Nam học; các đơn vị được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng tiếng Việt cho người nước ngoài.
Thứ hai, các tổ chức, cá nhân có liên quan đến tổ chức thi đánh giá năng lực ngoại ngữ và tổ chức thi đánh giá năng lực tiếng Việt.
Mặt khác, chứng chỉ ngoại ngữ được các đơn vị tổ chức thi theo quy định của Thông tư cấp cho người dự thi đạt yêu cầu tương ứng với Khung năng lực ngoại ngữ dùng cho Việt Nam là chứng chỉ thuộc hệ thống giáo dục quốc dân. Chứng chỉ tiếng Việt được các đơn vị tổ chức thi theo quy định của Thông tư cấp cho người dự thi đạt yêu cầu tương ứng với Khung năng lực tiếng Việt dùng cho người nước ngoài là chứng chỉ thuộc hệ thống giáo dục quốc dân. Thời hạn hiệu lực của chứng chỉ ngoại ngữ, chứng chỉ tiếng Việt do cơ quan, đơn vị sử dụng chứng chỉ quyết định tùy theo mục đích, yêu cầu của từng công việc cụ thể.
Đơn vị tổ chức thi đánh giá năng lực ngoại ngữ, tiếng Việt phải đáp ứng các tiêu chuẩn nhằm bảo đảm tính khách quan, công bằng, minh bạch, an ninh an toàn và chất lượng của kỳ thi. Tiêu chuẩn của đơn vị tổ chức thi được quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư. Các tiêu chuẩn quy định được áp dụng làm căn cứ để đơn vị tổ chức thi tự đánh giá năng lực tổ chức thi và để cơ quan có thẩm quyền thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra, hậu kiểm theo quy định của pháp luật. Tùy theo mức độ vi phạm của đơn vị tổ chức thi, Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ xem xét dừng việc tổ chức thi của các đơn vị hoặc tạm dừng cho đến khi bảo đảm đủ các tiêu chuẩn, tiêu chí và các yêu cầu liên quan theo quy định.
Về trách nhiệm của đơn vị tổ chức thi, đơn vị liên kết tổ chức thi và cơ quan quản lý
Đối với đơn vị tổ chức thi, một là cần xây dựng đề án tổ chức thi theo mẫu, công khai đề án trên cổng thông tin điện tử của đơn vị mình trước ngày tổ chức thi tối thiểu 60 ngày. Trước khi đăng tải trên cổng thông tin điện tử của đơn vị, các đơn vị gửi đề án về Bộ Giáo dục và Đào tạo (qua Cục Quản lý chất lượng) để phục vụ công tác quản lý và công khai danh sách các đơn vị đáp ứng các quy định của Thông tư để tổ chức thi.
Hai là chịu trách nhiệm toàn diện trong công tác tổ chức thi và các nội dung liên quan trước, trong và sau mỗi kỳ thi; tổ chức thực hiện kiểm tra, giám sát quá trình tổ chức thi.
Ba là lưu trữ hồ sơ về quá trình tổ chức thi, cấp chứng chỉ ngoại ngữ hoặc chứng chỉ tiếng Việt. Đơn vị tổ chức thi lưu trữ: Vĩnh viễn danh sách thí sinh dự thi, bảng điểm chi tiết, danh sách thí sinh được cấp chứng chỉ; Dữ liệu bài thi, dữ liệu từ các camera giám sát phòng thi, phòng chấm thi, khu vực đặt máy chủ, hồ sơ coi thi, hồ sơ chấm thi, đĩa CD hoặc DVD chứa đề thi và các biên bản xử lý (nếu có) theo quy định hiện hành của Bộ Giáo dục và Đào tạo về thời hạn lưu trữ hồ sơ, tài liệu thuộc lĩnh vực giáo dục và đào tạo.
Bốn là cung cấp các tài liệu liên quan đến việc tổ chức thi, đề thi, cấp chứng chỉ; các minh chứng về việc tổ chức thi an toàn, nghiêm túc khi có yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Năm là tiếp nhận và xử lý các vướng mắc liên quan đến cấp, phát chứng chỉ; các phản ánh, kiến nghị liên quan đến công tác tổ chức thi, cấp chứng chỉ.
Sáu là thực hiện chế độ báo cáo trước ngày 15/6 và ngày 15/12 hằng năm về Bộ Giáo dục và Đào tạo (qua Cục Quản lý chất lượng), bao gồm số liệu tổng hợp kết quả tổ chức thi đánh giá năng lực ngoại ngữ hoặc tổ chức thi đánh giá năng lực tiếng Việt theo biểu mẫu quy định.
Bảy là có trách nhiệm thường xuyên kiểm tra, giám sát và duy trì các tiêu chuẩn, tiêu chí và các quy định để tổ chức thi theo đúng quy định; chịu trách nhiệm trước pháp luật về công tác tổ chức thi bao gồm cả trách nhiệm giải trình trước cơ quan quản lý nhà nước và xã hội về công tác tổ chức thi, chất lượng của kỳ thi.
Đối với đơn vị liên kết tổ chức thi, phải bảo đảm các điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị và đội ngũ nhân sự tham gia công tác coi thi do đơn vị tổ chức thi yêu cầu phục vụ cho việc tổ chức thi đánh giá năng lực theo quy định. Trường hợp đơn vị liên kết tổ chức thi ở nước ngoài, đơn vị này phải có tư cách pháp nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật ở nước sở tại và được cơ quan có thẩm quyền của nước sở tại công nhận. Kịp thời cung cấp minh chứng có liên quan khi có yêu cầu từ cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam.
Đơn vị thực hiện nghĩa vụ, quyền hạn theo đúng thỏa thuận hoặc hợp đồng hợp tác trong quá trình liên kết tổ chức thi bảo đảm an ninh, an toàn, chất lượng. Chịu trách nhiệm giải trình trước cơ quan quản lý nhà nước và xã hội về chất lượng, hiệu quả của việc liên kết tổ chức thi. Đơn vị liên kết tổ chức thi không được cấp chứng chỉ.
Đối với cơ quan quản lý, Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo, thực hiện việc kiểm tra hoạt động của các đơn vị tổ chức thi đánh giá năng lực ngoại ngữ và đơn vị tổ chức thi đánh giá năng lực tiếng Việt theo quy định hiện hành.
Đơn vị thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo được giao nhiệm vụ có trách nhiệm hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ các đơn vị tổ chức thi và đánh giá mức độ đáp ứng các tiêu chuẩn, tiêu chí; quy trình, quy định theo Thông tư; công bố công khai danh sách các đơn vị đáp ứng tiêu chuẩn trên trang thông tin điện tử của Bộ Giáo dục và Đào tạo.