Hà Nội dự kiến hỗ trợ 15 triệu/tháng cùng kinh phí nghiên cứu cho nghiên cứu sinh: Bước đi đột phá

08/03/2026 06:26
Hồng Mai

GDVN - Đại diện một số viện nghiên cứu, trường ĐH cho rằng chính sách hỗ trợ nghiên cứu sinh của Hà Nội nếu thông qua sẽ gỡ khó về tài chính cho người học.

Dự thảo Nghị quyết Quy định chính sách hỗ trợ đào tạo nghiên cứu sinh của Thành phố Hà Nội đang nhận được nhiều sự quan tâm của cộng đồng trí thức. Theo Điều 5 dự thảo, nghiên cứu sinh trúng tuyển sẽ được hưởng học bổng 15 triệu đồng/tháng và hỗ trợ tối đa 50 triệu đồng/năm cho hoạt động nghiên cứu, bao gồm chi phí xuất bản và tham dự hội nghị trong nước.

Nghiên cứu sinh có kết quả nghiên cứu gắn với các chương trình khoa học công nghệ của thành phố sẽ được hỗ trợ 100% phí công bố trên tạp chí thuộc danh mục Web of Science; được hỗ trợ kinh phí tham dự hội nghị quốc tế, thực tập ngắn hạn hoặc nghiên cứu ở nước ngoài tại các cơ sở thuộc Top 200 thế giới...

Đại diện một số viện nghiên cứu, cơ sở giáo dục đại học tại Hà Nội cho rằng nếu dự thảo được thông qua sẽ tháo gỡ nhiều khó khăn cho nghiên cứu sinh hiện nay.

Nghiên cứu sinh vẫn đang gặp nhiều “nút thắt” về tài chính, khó phát huy tối đa năng lực

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đỗ Văn Mạnh - Viện trưởng Viện Khoa học Công nghệ Năng lượng và Môi trường (ISTEE), trực thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VAST) cho hay, khó khăn lớn nhất của nghiên cứu sinh nước ta, đặc biệt trong các lĩnh vực khoa học công nghệ là “điểm nghẽn” về tài chính.

Trước hết là chi phí công bố quốc tế. Việc đăng tải công trình trên các tạp chí khoa học uy tín, đặc biệt thuộc danh mục Web of Science, đòi hỏi nguồn kinh phí lớn, nhất là khi nghiên cứu sinh thực hiện công bố với tư cách tác giả chính hoặc tác giả liên hệ.

Bên cạnh đó là bài toán kinh phí duy trì hoạt động nghiên cứu. Nghiên cứu sinh phải tự cân đối các khoản chi cho xuất bản phẩm, tham dự hội nghị, hội thảo khoa học trong nước và quốc tế. Trong lĩnh vực môi trường, năng lượng, nghiên cứu sinh còn cần kinh phí để mua sắm hóa chất, thuê thiết bị, mua dữ liệu quan trắc phục vụ thí nghiệm và hoàn thiện luận án.

Ngoài ra, nghiên cứu sinh cũng chịu áp lực về thu nhập và sinh kế. Việc thiếu các học bổng ổn định hàng tháng khiến nhiều người khó toàn tâm cho công việc chuyên môn, buộc phải phân tán thời gian cho các hoạt động khác để đảm bảo cuộc sống.

“Những “nút thắt” tài chính này không chỉ tạo áp lực cho cá nhân nghiên cứu sinh mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đào tạo tiến sĩ và năng lực cạnh tranh quốc tế của cơ sở nghiên cứu. Việc xây dựng và triển khai chính sách hỗ trợ phù hợp sẽ góp phần hình thành hệ sinh thái nghiên cứu bền vững, nâng cao chất lượng đào tạo tiến sĩ tại Việt Nam”, thầy Mạnh nêu quan điểm.

Đồng tình với quan điểm trên, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Thành Nam - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Giáo dục (Đại học Quốc gia Hà Nội) cho biết, tại nhiều quốc gia, nghiên cứu sinh được xem là lực lượng lao động trong lĩnh vực khoa học, làm việc toàn thời gian và được bảo đảm nguồn thu nhập tương xứng để phát huy tối đa năng lực nghiên cứu.

Ở Việt Nam, nghiên cứu sinh phải đáp ứng yêu cầu công bố quốc tế như một điều kiện bắt buộc để tốt nghiệp. Trong khi đó, các tạp chí uy tín thuộc danh mục Web of Science hiện thu phí công bố (APC) trung bình từ 1.500-5.000 USD/bài (tương đương 39,3-131,1 triệu đồng). Thậm chí nhiều tạp chí truy cập mở (Open Access) trong lĩnh vực công nghệ có chi phí lên tới 8.000-10.000 USD (tương đương gần 209,7-262,1 triệu đồng).

Đây là gánh nặng lớn, vượt quá khả năng tự chi trả của phần đông nghiên cứu sinh nước ta, khiến không ít công trình chất lượng cao bị trì hoãn công bố hoặc phải đăng tải trên các tạp chí có mức độ uy tín thấp hơn.

Bên cạnh chi phí công bố, quá trình thực hiện nghiên cứu cũng đòi hỏi nguồn kinh phí đáng kể cho thu thập dữ liệu thực nghiệm, sử dụng thiết bị hiện đại, hóa chất, vật tư tiêu hao hoặc thuê dịch vụ phân tích chuyên sâu. Thiếu hụt nguồn lực tài chính có thể ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô, chất lượng và độ tin cậy của dữ liệu nghiên cứu.

Ngoài ra, việc tham dự hội nghị, trao đổi học thuật trực tiếp với các học giả quốc tế và tham gia mạng lưới nghiên cứu toàn cầu là yêu cầu cần thiết để nâng cao chất lượng luận án. Tuy nhiên, chi phí đi lại, lưu trú và lệ phí hội nghị thường vượt quá khả năng chi trả cá nhân.

Những rào cản tài chính nêu trên đang làm hạn chế cơ hội phát triển của nhiều nghiên cứu sinh có năng lực, đồng thời tác động không nhỏ đến chất lượng đào tạo tiến sĩ trong thời gian qua.

image.png
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Thành Nam - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Giáo dục (Đại học Quốc gia Hà Nội). Ảnh: Website nhà trường

Tạo điều kiện để nghiên cứu sinh tập trung cho phòng thí nghiệm và thư viện thay vì phải làm thêm

Theo Viện trưởng Viện Khoa học Công nghệ Năng lượng và Môi trường (ISTEE), tại Dự thảo Quy định chính sách hỗ trợ đào tạo nghiên cứu sinh của Thành phố Hà Nội quy định, hỗ trợ 100% phí công bố kết quả nghiên cứu trên tạp chí khoa học và công nghệ uy tín quốc tế thuộc danh mục cơ sở dữ liệu các tạp chí khoa học của Web of Science là một giải pháp trực diện nhằm tháo gỡ "điểm nghẽn" tài chính lớn nhất cho nghiên cứu sinh hiện nay.

Việc công bố công trình trên các tạp chí quốc tế uy tín thường đòi hỏi mức kinh phí lớn, vượt quá khả năng chi trả của phần lớn nghiên cứu sinh. Khi rào cản tài chính này được tháo gỡ, nghiên cứu sinh có thể “toàn tâm toàn ý” cho hoạt động chuyên môn, mạnh dạn theo đuổi những đề tài có tính đột phá thay vì bị chi phối bởi áp lực chi phí xuất bản.

Chính sách này nếu được thực hiện sẽ tạo ra những tác động tích cực và sâu rộng đối với chất lượng đào tạo cũng như năng lực hội nhập quốc tế của các đơn vị nghiên cứu.

Việc đặt ra chuẩn đầu ra là các công bố quốc tế uy tín (như yêu cầu ít nhất 2 bài báo thuộc nhóm Q1 hoặc Q2 trong lĩnh vực khoa học và công nghệ), buộc nghiên cứu sinh phải thực hiện các nghiên cứu có tính mới, tính sáng tạo và độ tin cậy cao theo chuẩn mực toàn cầu. Qua đó, đảm bảo nguồn nhân lực trình độ cao được đào tạo bài bản và có khả năng cạnh tranh quốc tế.

Đối với ISTEE và các đơn vị trực thuộc VAST, công bố quốc tế là thước đo quan trọng phản ánh vị thế nghiên cứu trên bản đồ khoa học thế giới. Chính sách này sẽ tạo điều kiện để nhà khoa học trẻ của viện khẳng định năng lực học thuật, từ đó mở rộng hợp tác, ký kết biên bản ghi nhớ (MOU) và triển khai các dự án nghiên cứu chung với các tổ chức khoa học quốc tế uy tín.

Việc hỗ trợ kinh phí gắn với các công bố chất lượng cao sẽ thúc đẩy hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh, tạo nền tảng cho thương mại hóa kết quả nghiên cứu và chuyển giao công nghệ. Định hướng này phù hợp với tầm nhìn của ISTEE là trở thành viện nghiên cứu hàng đầu về công nghệ tiên tiến phục vụ mục tiêu bền vững và Net Zero.

Ngoài ra, đề xuất của Thành phố Hà Nội về mức hỗ trợ 15 triệu đồng/tháng cùng kinh phí nghiên cứu tối đa 50 triệu đồng/năm cho nghiên cứu sinh là bước đi đột phá.

Khoản học bổng 15 triệu đồng/tháng giúp người học bảo đảm sinh kế, giảm áp lực tài chính cho nghiên cứu sinh và gia đình, tháo gỡ “điểm nghẽn” thu nhập, tạo điều kiện để nghiên cứu sinh tập trung cho phòng thí nghiệm và thư viện thay vì phải làm thêm.

Đáng chú ý, nghiên cứu sinh còn có thể được hỗ trợ tối đa 50 triệu đồng/năm để tham dự hội nghị quốc tế hoặc thực tập ngắn hạn tại các cơ sở đào tạo thuộc Top 200 thế giới, qua đó mở rộng cơ hội hội nhập, tiếp cận các nhóm nghiên cứu mạnh và công nghệ tiên tiến trên thế giới.

Dự thảo cũng đưa ra cơ chế khuyến khích đáng kể: nghiên cứu sinh hoàn thành sớm chương trình đào tạo (từ 6 tháng trở lên) sẽ được nhận một lần toàn bộ học bổng của thời gian còn lại và nhân hệ số 1,5. Đây là động lực tài chính mạnh mẽ để nghiên cứu sinh nỗ lực đạt kết quả sớm và chất lượng cao.

Thầy Mạnh khẳng định: “Sự kết hợp giữa hỗ trợ sinh hoạt phí hàng tháng và kinh phí nghiệp vụ/công bố theo dự thảo đưa ra đã bao phủ hầu hết các nhu cầu thiết yếu nhất của một nghiên cứu sinh. Điều này không chỉ tạo động lực cá nhân mà còn góp phần xây dựng một đội ngũ trí thức chất lượng cao, sẵn sàng giải quyết các "bài toán lớn" của Thủ đô trong tương lai.

Chính sách cho nghiên cứu sinh của Hà Nội không chỉ là sự hỗ trợ về tài chính mà còn là đòn bẩy chiến lược để chuyển trọng tâm từ số lượng sang chất lượng và tiềm năng tác động của các công trình nghiên cứu”.

nganhduoc3.jpg
Ảnh minh họa: VAST

Ở góc độ cơ sở giáo dục đại học, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Giáo dục (Đại học Quốc gia Hà Nội) cho rằng, đề xuất hỗ trợ 15 triệu đồng/tháng cho nghiên cứu sinh là mức tương đối cao, có phần hơn thu nhập của lao động phổ thông và mức lương khởi điểm của nhiều giảng viên đại học. Khoản hỗ trợ này giúp nghiên cứu sinh bảo đảm cuộc sống cơ bản, hạn chế nhu cầu làm thêm và có điều kiện chia sẻ trách nhiệm với gia đình. Tuy nhiên, để chính sách toàn diện hơn, cần xem xét bổ sung cơ chế phụ cấp đối với những nghiên cứu sinh có hoàn cảnh đặc biệt.

Đối với mức hỗ trợ nghiên cứu tối đa 50 triệu đồng/năm, ở các lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, đây là nguồn kinh phí tương đối phù hợp để triển khai các đề tài dựa trên khảo sát và phân tích dữ liệu. Song, với lĩnh vực khoa học công nghệ, y sinh, nông nghiệp đòi hỏi thí nghiệm phức tạp, thiết bị chuyên dụng và hóa chất đắt tiền, mức này có thể chỉ đáp ứng một phần nhu cầu thực tế.

Vì vậy, chính sách cần có sự phân hóa theo nhóm ngành trọng điểm, đồng thời cho phép huy động thêm nguồn lực hợp pháp từ các đề tài quốc gia, quốc tế hoặc hợp tác doanh nghiệp, với cơ chế quản lý minh bạch, tránh chồng chéo.

Bên cạnh yếu tố tài chính, động lực nghiên cứu của người học còn phụ thuộc vào môi trường học thuật, cơ hội nghề nghiệp và sự ghi nhận xã hội. Do đó, chính sách hỗ trợ cần đi kèm các quy định về ưu tiên tuyển dụng, xếp lương và lộ trình thăng tiến sau tốt nghiệp, nhằm tạo động lực dài hạn cho đội ngũ nghiên cứu sinh.

Đề xuất giải pháp xây dựng hệ sinh thái nghiên cứu bền vững

Dựa trên thực tiễn đào tạo và quản lý nghiên cứu sinh tại ISTEE và các viện nghiên cứu thuộc VAST, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Đỗ Văn Mạnh cho rằng, để chính sách hỗ trợ của Thành phố Hà Nội không chỉ dừng lại ở tài chính mà còn thực sự tạo ra một hệ sinh thái nghiên cứu bền vững, cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp.

Thứ nhất là đầu tư và hiện đại hóa cơ sở vật chất nghiên cứu. Thành phố cần ưu tiên xây dựng các phòng thí nghiệm dùng chung, đầu tư thiết bị hiện đại phục vụ các lĩnh vực khoa học mũi nhọn. Mô hình chia sẻ hạ tầng giữa các viện, trường sẽ tối ưu công năng sử dụng và tạo điều kiện cho nghiên cứu sinh triển khai thí nghiệm chuyên sâu.

Đồng thời, gắn kết sản phẩm nghiên cứu với hạ tầng nghiên cứu, khuyến khích việc sử dụng chính các mô hình, sản phẩm từ các đề tài nghiên cứu cấp Nhà nước hoặc thành phố làm cơ sở vật chất cho nghiên cứu sinh khóa sau.

Thứ hai là hình thành và phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh. Nội dung luận án cần gắn với các “bài toán lớn” của Thủ đô và doanh nghiệp, tập trung vào những lĩnh vực chiến lược như Net Zero, kinh tế tuần hoàn, chuyển đổi số. Cách tiếp cận này vừa nâng cao tính ứng dụng, vừa hình thành đội ngũ chuyên gia trẻ có năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn.

Bên cạnh đó, cần thúc đẩy cơ chế nhóm nghiên cứu liên ngành, tăng cường phối hợp giữa các viện chuyên sâu nhằm tạo ra các nhóm đủ năng lực chủ trì dự án quy mô lớn và đào tạo nghiên cứu sinh theo hướng tích hợp.

Thứ ba, đẩy mạnh hợp tác quốc tế và đồng hướng dẫn. Cơ sở đào tạo cần khai thác hiệu quả mạng lưới hợp tác quốc tế thông qua các bản ghi nhớ hợp tác (MOU) đã ký với những tổ chức R&D uy tín. Việc cử nghiên cứu sinh đi thực tập ngắn hạn (dưới 180 ngày) hoặc nghiên cứu sau tiến sĩ tại các cơ sở thuộc đại học top 200 thế giới là giải pháp nhanh và hiệu quả để tiếp cận công nghệ tiên tiến, chuẩn mực học thuật cao.

Cùng với đó, cần ưu tiên cơ chế đồng hướng dẫn đối với nghiên cứu sinh có thư cam kết từ các giáo sư tại trường đại học uy tín quốc tế. Thực tiễn tại ISTEE cho thấy, hợp tác với các đối tác đến từ những quốc gia có nền khoa học phát triển góp phần nâng cao chất lượng và số lượng công bố khoa học đạt chuẩn quốc tế.

Thứ tư là cơ chế ràng buộc và cam kết sau đào tạo. Sau đào tạo, Hà Nội nên có chính sách thu hút, giữ chân nhân tài, khuyến khích nghiên cứu sinh tiếp tục đóng góp cho các chương trình phát triển bền vững của thành phố và quốc gia, nhằm đưa kết quả nghiên cứu của các nghiên cứu sinh được chuyển hóa thành luận cứ khoa học cho chính sách, giải pháp công nghệ hoặc sản phẩm ứng dụng phục vụ trực tiếp cho thành phố.

Trong khi đó, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Thành Nam khẳng định: “Tôi cho rằng các chính sách tại Điều 5 Dự thảo Quy định chính sách hỗ trợ đào tạo nghiên cứu sinh của Thành phố Hà Nội sẽ tạo hiệu ứng lan tỏa đa tầng.

Khi nguồn lực tài chính được bảo đảm, nghiên cứu sinh có thể tập trung chuyên sâu vào đề tài, thực hiện thí nghiệm lặp lại, thu thập dữ liệu đa nguồn, qua đó nâng cao độ tin cậy và tính mới của kết quả nghiên cứu. Tỷ lệ tốt nghiệp đúng hạn dự kiến sẽ tăng mạnh khi triển khai chính sách này.

Chính sách cũng tạo động lực để các cơ sở đào tạo chủ động quy hoạch đội ngũ kế cận, xây dựng chiến lược đào tạo tiến sĩ bài bản hơn. Các nhóm nghiên cứu mạnh có điều kiện hình thành và củng cố, nâng cao khả năng đề xuất, trúng tuyển các đề tài cấp quốc gia, quốc tế, từng bước xây dựng thương hiệu và trường phái học thuật riêng.

Về dài hạn, Hà Nội có thể trở thành điểm đến hấp dẫn đối với nghiên cứu sinh từ các địa phương và cả những quốc gia đang phát triển, qua đó nâng cao vị thế học thuật của Thủ đô trong khu vực ASEAN.

Tuy nhiên, bên cạnh tài chính, cần hướng tới xây dựng hệ sinh thái nghiên cứu bền vững để chính sách phát huy hiệu quả dài hạn. Có thể xem xét 5 trụ cột trọng tâm:

Trước hết, kết nối nghiên cứu sinh với doanh nghiệp và địa phương. Mỗi đề tài nên gắn với ít nhất một đơn vị thụ hưởng kết quả nghiên cứu, bảo đảm tính ứng dụng, đồng thời mở ra cơ hội huy động thêm nguồn lực và chuyển giao công nghệ sau tốt nghiệp.

Tiếp đó, hình thành mạng lưới cố vấn học thuật quốc tế. Cần đẩy mạnh cơ chế đồng hướng dẫn (co-supervision) nghiên cứu sinh, hỗ trợ kinh phí mời chuyên gia quốc tế tham gia phản biện, hướng dẫn và hội đồng bảo vệ, qua đó nâng cao chuẩn mực học thuật.

Mặt khác, cần thiết lập quỹ hỗ trợ sau bảo vệ. Nhiều công trình nghiên cứu cần thời gian bổ sung sau bảo vệ để hoàn thiện và công bố quốc tế. Chính sách nên có quỹ hỗ trợ 6-12 tháng sau tốt nghiệp để nghiên cứu sinh hoàn tất các sản phẩm khoa học, đăng ký bản quyền, hoặc thương mại hóa kết quả.

Cùng với đó, xây dựng cơ chế đánh giá minh bạch. Mỗi nghiên cứu sinh được hỗ trợ cần công khai tiến độ và kết quả trên cổng thông tin của thành phố, tạo áp lực tích cực và minh bạch hóa đầu tư công. Đồng thời, xây dựng hệ thống chỉ số đo lường hiệu quả (số bài báo quốc tế, bằng sáng chế, dự án ứng dụng, chuyển giao công nghệ) để đánh giá hiệu quả chính sách định kỳ.

Cuối cùng, cần tạo lập cộng đồng nghiên cứu sinh bằng cách thành lập hội nghiên cứu sinh Hà Nội. Cộng đồng này là sân chơi học thuật, chia sẻ kinh nghiệm hoặc tổ chức workshop, seminar định kỳ để nghiên cứu sinh phát triển kỹ năng mềm, xây dựng mạng lưới hợp tác, và nuôi dưỡng văn hóa nghiên cứu bền vững.

“Để chính sách hỗ trợ nghiên cứu sinh phát huy tối đa hiệu quả, cần kết hợp đồng bộ giữa hỗ trợ tài chính và xây dựng hệ sinh thái nghiên cứu, trong đó nghiên cứu sinh không chỉ là người được hỗ trợ mà còn là chủ thể đóng góp vào sự phát triển khoa học công nghệ của Thủ đô và đất nước”, thầy Nam nhấn mạnh.

Hồng Mai