Phó Thủ tướng Lê Thành Long đã ký Quyết định số 336/QĐ-TTg ngày 25/2/2026 phê duyệt Chương trình "Hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp giai đoạn 2026 - 2035".
Trong đó, chương trình đặt mục tiêu, trong giai đoạn từ 2026 - 2030 phấn đấu mỗi năm ít nhất 40 dự án khởi nghiệp của nhà giáo, người học được đầu tư hoặc kết nối nguồn vốn; giai đoạn 2031 - 2035 phấn đấu mỗi năm ít nhất 70 dự án.
Khởi nghiệp là một nhiệm vụ chiến lược quan trọng của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tư Giáo dục Việt Nam, Tiến sĩ Nguyễn Văn Tân - Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Lạc Hồng, Thành viên Hội đồng Cố vấn Khởi nghiệp Đổi mới sáng tạo Việt Nam chia sẻ, hoạt động học sinh, sinh viên khởi nghiệp không chỉ là một phong trào, mà là một nhiệm vụ chiến lược, một "đột phá" quan trọng để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước. Tầm quan trọng của hoạt động này được thể hiện qua 4 khía cạnh then chốt.
Thứ nhất, hình thành "văn hóa khởi nghiệp" bền vững. Thay vì chỉ là những cuộc thi mang tính phong trào, Quyết định số 336/QĐ-TTg đặt mục tiêu hàng đầu là hình thành văn hóa khởi nghiệp ngay trong các cơ sở giáo dục.
Thứ hai, xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp "đồng bộ và thực chất". Tầm quan trọng của chương trình nằm ở việc phát triển một hệ sinh thái không chỉ có bề nổi mà còn đi vào chiều sâu với sự hỗ trợ từ cơ chế, chính sách, hạ tầng và nền tảng số.
Thứ ba, thúc đẩy mô hình "doanh nghiệp trong nhà trường". Quyết định này mở đường cho việc nghiên cứu, thí điểm các mô hình doanh nghiệp khởi nghiệp (startup) và doanh nghiệp khởi nguồn (spin-off) ngay tại các cơ sở đào tạo. Đây là bước đi quan trọng để thương mại hóa các kết quả nghiên cứu, biến chất xám thành các sản phẩm, giải pháp có giá trị thực tế và mang bản sắc Việt Nam.
Thứ tư, tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao cho kinh tế tri thức. Với các mục tiêu cụ thể qua từng giai đoạn, chương trình đảm bảo một tỷ lệ lớn học sinh, sinh viên được định hướng và trang bị kỹ năng khởi nghiệp. Việc kết nối mạng lưới cố vấn, nhà đầu tư thiên thần và các quỹ hỗ trợ sẽ giúp hình thành các thế hệ doanh nhân mới, đóng góp trực tiếp cho sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững của đất nước.
Cũng theo thầy Tân, hiện hoạt động khởi nghiệp của học sinh, sinh viên có những thuận lợi như Quyết định số 336/QĐ-TTg đã tạo hành lang pháp lý đồng bộ. Chính phủ đã xác lập một lộ trình dài hơi với mục tiêu 100% các cơ sở đào tạo phải có quy chế và dịch vụ hỗ trợ khởi nghiệp. Việc này giúp các trường như Trường Đại học Lạc Hồng có cơ sở pháp lý vững chắc để đầu tư nguồn lực mà không còn e ngại về mặt cơ chế.
Bên cạnh đó, theo Quyết định số 336/QĐ-TTg, Nhà nước sẽ đầu tư ít nhất 40 phòng thí nghiệm chế tạo mở và phát triển các hệ sinh thái khởi nghiệp tại các cơ sở đào tạo trọng điểm. Với thế mạnh về kỹ thuật và robot của Trường Đại học Lạc Hồng, đây là cơ hội để nhà trường nâng cấp các phòng Lab, giúp sinh viên biến ý tưởng thành sản phẩm mẫu một cách nhanh chóng.
Bên cạnh những mặt thuận lợi, theo thầy Tân, hoạt động khởi nghiệp vẫn còn 1 số những thách thức như cơ chế "doanh nghiệp trong nhà trường" còn mới mẻ. Mặc dù Quyết định số 336/QĐ-TTg khuyến khích mô hình startup và spin-off (doanh nghiệp khởi nguồn) gắn với cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox), nhưng việc triển khai thực tế về quyền sở hữu trí tuệ, phân chia lợi nhuận giữa nhà trường và sinh viên/giảng viên vẫn là bài toán cần thời gian để hoàn thiện.
Bên cạnh đó, mặc dù quyết định số 336/QĐ-TTg đã thẳng thắn thừa nhận cần "chấp nhận rủi ro cao" đối với các dự án khởi nghiệp sáng tạo. Tuy nhiên, để thay đổi tâm lý sợ thất bại của học sinh, sinh viên và phụ huynh vẫn là một thách thức về mặt giáo dục tinh thần.
Cùng với đó, hiện nhiều dự án của sinh viên vẫn còn nặng tính học thuật hoặc giải thưởng cuộc thi. Thách thức lớn là làm sao để các dự án này đạt được "ngưỡng ra thị trường" – tức là có thể thương mại hóa thành công như mục tiêu mà Chính phủ đề ra.
Ngoài ra, trong các lĩnh vực kỹ thuật then chốt, công nghệ thay đổi rất nhanh. Nếu sinh viên không được kết nối liên tục với mạng lưới cố vấn quốc tế và doanh nghiệp, các ý tưởng khởi nghiệp rất dễ bị lạc hậu ngay khi vừa ra đời.
Cùng bàn về vấn đề này, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bạch Long Giang – Trưởng phòng Khoa học công nghệ kiêm Giám đốc Trung tâm Sáng tạo và ươm tạo khởi nghiệp, Trường Đại học Nguyễn Tất Thành chia sẻ, Quyết định số 336/QĐ-TTg đã thể hiện sự quan tâm mạnh mẽ trong việc xây dựng văn hóa khởi nghiệp ngay từ môi trường giáo dục.
Theo thầy Giang, những năm gần đây, phong trào khởi nghiệp trong học sinh, sinh viên đã có nhiều điều kiện thuận lợi.
Trước hết là sự quan tâm mạnh mẽ từ Chính phủ, các bộ ngành, các địa phương thông qua các chương trình hỗ trợ khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo. Bên cạnh đó, nhiều trường đại học đã hình thành trung tâm đổi mới sáng tạo, vườn ươm khởi nghiệp và không gian sáng tạo nhằm hỗ trợ sinh viên phát triển ý tưởng.
Tại Trường Đại học Nguyễn Tất Thành, nhà trường đã thành lập Trung tâm Sáng tạo và Ươm tạo khởi nghiệp (NIIC) - đơn vị thành viên của Mạng lưới Đổi mới sáng tạo và Khởi nghiệp Đại học và Cao đẳng Việt Nam (VNEI). Trung tâm đóng vai trò hạt nhân trong việc hình thành và phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp trong nhà trường, cung cấp không gian sáng tạo, các dịch vụ hỗ trợ và nguồn lực cần thiết để ươm tạo, phát triển dự án từ giai đoạn ý tưởng đến thương mại hóa.
Thông qua việc kết nối nguồn tri thức từ giảng viên, sinh viên với cộng đồng doanh nghiệp và chuyên gia, NIIC góp phần thúc đẩy các hoạt động đổi mới sáng tạo trong môi trường đại học. Bên cạnh đó, các chương trình như cuộc thi ý tưởng khởi nghiệp, mạng lưới cố vấn, hoạt động kết nối doanh nghiệp và đào tạo kỹ năng khởi nghiệp đã tạo điều kiện để nhiều sinh viên mạnh dạn phát triển các dự án sáng tạo và từng bước tiếp cận thị trường.
Tuy vậy, hoạt động khởi nghiệp của sinh viên vẫn còn không ít rào cản. Phần lớn các dự án hiện nay mới dừng ở giai đoạn ý tưởng hoặc mô hình thử nghiệm, nên khả năng thương mại hóa và thu hút đầu tư còn hạn chế.
Bên cạnh đó, nhiều nhóm khởi nghiệp gặp khó khăn khi tiếp cận nguồn vốn giai đoạn đầu, đội ngũ cố vấn chuyên môn cũng như mạng lưới thị trường. Thực tế này cho thấy sinh viên vẫn cần được trang bị bài bản hơn về các kỹ năng thiết yếu như quản trị doanh nghiệp, xây dựng mô hình kinh doanh, phát triển sản phẩm và bảo hộ sở hữu trí tuệ, nhằm nâng cao khả năng triển khai và phát triển dự án trong thực tiễn.
Cần có các giải pháp đột phá về cơ chế, chính sách và đầu tư cho dự án khởi nghiệp
Trước mục tiêu giai đoạn từ 2026 - 2030 phấn đấu mỗi năm ít nhất 40 dự án khởi nghiệp của nhà giáo, người học được đầu tư hoặc kết nối nguồn vốn; giai đoạn 2031 - 2035 phấn đấu mỗi năm ít nhất 70 dự án, theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bạch Long Giang đạt được mục tiêu này, cần tập trung vào ba nhóm giải pháp chính.
Giải pháp trước hết là cần tăng cường cơ chế hỗ trợ tài chính cho các dự án khởi nghiệp sinh viên, đặc biệt là giai đoạn đầu. Các quỹ hỗ trợ khởi nghiệp trong trường đại học hoặc các chương trình hợp tác với doanh nghiệp, quỹ đầu tư sẽ giúp các dự án có điều kiện phát triển sản phẩm và thử nghiệm thị trường.
Đồng thời, cần đẩy mạnh thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học trong trường đại học. Nhiều dự án khởi nghiệp tiềm năng có thể xuất phát từ các đề tài nghiên cứu của giảng viên và sinh viên nếu được hỗ trợ tốt về chuyển giao công nghệ và sở hữu trí tuệ.
Việc đầu tư phát triển hạ tầng đổi mới sáng tạo trong các cơ sở giáo dục như vườn ươm khởi nghiệp, phòng thí nghiệm mở, không gian sáng tạo cùng các chương trình đào tạo về khởi nghiệp cũng đóng vai trò quan trọng. Những điều kiện này giúp sinh viên có môi trường thuận lợi để thử nghiệm ý tưởng, hoàn thiện sản phẩm và từng bước tiếp cận thị trường. Thực tế cho thấy, khi sinh viên được hỗ trợ đồng bộ từ giai đoạn hình thành ý tưởng, tiếp cận cố vấn chuyên môn, thử nghiệm sản phẩm đến kết nối với doanh nghiệp và nhà đầu tư, khả năng phát triển và hiện thực hóa các dự án khởi nghiệp sẽ được nâng cao rõ rệt.
“Hệ sinh thái khởi nghiệp chỉ có thể phát triển bền vững khi có sự gắn kết chặt chẽ giữa bốn chủ thể: nhà trường - doanh nghiệp - nhà đầu tư - Nhà nước.
Trong đó, trường đại học đóng vai trò hạt nhân, là nơi hình thành ý tưởng sáng tạo, nghiên cứu khoa học và đào tạo nguồn nhân lực khởi nghiệp. Doanh nghiệp tham gia với vai trò đối tác công nghệ, cố vấn và thị trường, giúp các dự án khởi nghiệp kiểm chứng sản phẩm và phát triển mô hình kinh doanh.
Các quỹ đầu tư và tổ chức tài chính hỗ trợ nguồn vốn và tư vấn chiến lược phát triển cho các startup. Trong khi đó, Nhà nước đóng vai trò kiến tạo môi trường chính sách, tạo hành lang pháp lý thuận lợi để các hoạt động khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo phát triển.
Tại Trường Đại học Nguyễn Tất Thành, chúng tôi đang cố gắng xây dựng mô hình kết nối này thông qua các chương trình hợp tác với doanh nghiệp, mạng lưới chuyên gia và các tổ chức hỗ trợ khởi nghiệp. Khi các chủ thể được liên kết hiệu quả, các dự án khởi nghiệp của sinh viên sẽ có cơ hội phát triển thành doanh nghiệp đổi mới sáng tạo thực sự, đóng góp cho sự phát triển kinh tế xã hội”, Trưởng phòng Khoa học công nghệ kiêm Giám đốc Trung tâm Sáng tạo và ươm tạo khởi nghiệp, Trường Đại học Nguyễn Tất Thành chia sẻ.
Còn theo Tiến sĩ Nguyễn Văn Tân, để đạt được mục tiêu trên, cần tập trung đồng bộ vào các nhóm giải pháp đột phá về cơ chế, chính sách và đầu tư. Đặc biệt, cần hoàn thiện hành lang pháp lý cho mô hình "doanh nghiệp trong nhà trường", đây là chìa khóa để thu hút vốn. Cần sớm hoàn thiện và thí điểm các mô hình startup và spin-off (doanh nghiệp khởi nguồn) gắn với cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox).
Cùng với đó, nên có quy định rõ ràng về việc quản lý, sử dụng và phân chia lợi ích, quyền sở hữu trí tuệ đối với các sản phẩm nghiên cứu của giảng viên và sinh viên. Khi quyền lợi và trách nhiệm được minh bạch, các nhà đầu tư mới tự tin rót vốn vào các dự án từ ghế nhà trường.
Bên cạnh ngân sách nhà nước, cần thành lập các quỹ hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp tại cơ sở đào tạo, khuyến khích vốn tư nhân như quỹ đầu tư mạo hiểm, nhà đầu tư thiên thần, mạng lưới cựu sinh viên. Đồng thời thúc đẩy cơ chế doanh nghiệp “đặt hàng” nghiên cứu và phát triển sản phẩm thông qua hợp tác công – tư.
Việc đầu tư mạnh vào hạ tầng và hệ sinh thái thực hành để nâng cao tính khả thi của các dự án khởi nghiệp cũng đóng vai trò quan trọng. Theo đó, cần xây dựng mạng lưới phòng thí nghiệm chế tạo mở (FabLab), khu ươm tạo, phòng mô phỏng doanh nghiệp số và phòng thí nghiệm chuyên sâu, đồng thời phát triển các trung tâm khởi nghiệp nòng cốt tại các cơ sở đào tạo trọng điểm.
Cuối cùng, có chính sách thu hút các chuyên gia, cố vấn khởi nghiệp quốc tế và trong nước tham gia huấn luyện, dẫn dắt học sinh, sinh viên. Đồng thời, việc tích hợp dữ liệu khởi nghiệp trên nền tảng số sẽ giúp các nhà đầu tư dễ dàng tìm kiếm, đánh giá và kết nối với các dự án tiềm năng một cách minh bạch, hiệu quả.
Trước băn khooăn khi các dự án khởi nghiệp của nhà giáo, người học được đầu tư hoặc kết nối nguồn vốn, có nên có những cam kết về tính khả thi của dự án cũng như có cơ chế giám sát khi triển khai. Thầy Tân cho rằng: “Đây là một câu hỏi rất xác đáng và chạm đúng vào bản chất của quản trị đầu tư trong khởi nghiệp. Việc có cam kết về tính khả thi và cơ chế giám sát là vô cùng cần thiết, nhưng phải được thiết kế một cách linh hoạt để không làm thui chột tinh thần sáng tạo.
Cam kết không nên chỉ là những con số doanh thu cứng nhắc ngay từ đầu, mà nên là cam kết về các mốc phát triển dự án. Việc giám sát chặt chẽ nhưng mang tính đồng hành và hướng dẫn sẽ giúp các dự án của nhà giáo và người học đi đúng hướng, đồng thời tạo niềm tin bền vững cho các nhà đầu tư khi tham gia vào hệ sinh thái khởi nghiệp trong nhà trường”.
Cũng theo thầy Tân, hệ sinh thái khởi nghiệp thực chất là một mạng lưới cộng sinh, nơi mà sự thành công của một chủ thể phụ thuộc mật thiết vào mối liên kết với các chủ thể khác. Trong đó, các mối liên kết chiến lược cần được xây dựng và thắt chặt.
Một là, liên kết "ba bên": Địa phương – Nhà trường – Doanh nghiệp. Đây được xem là "kiềng ba chân" vững chắc nhất cho hệ sinh thái.
Hai là, liên kết giữa tri thức và nguồn vốn (mạng lưới cố vấn – nhà đầu tư – cựu sinh viên). Các chủ thể này cần hình thành các chuỗi "cố vấn - đầu tư - thương mại hóa" gắn với từng lĩnh vực cụ thể. Sự tham gia của các tổ chức như Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cũng đóng vai trò cầu nối quan trọng để huy động nguồn lực từ cộng đồng doanh nghiệp cho các dự án của học sinh, sinh viên.
Ba là, liên kết giữa hạ tầng công nghệ và chuyển đổi số. Việc kết nối Cổng thông tin hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp của ngành giáo dục với Cổng thông tin khởi nghiệp quốc gia sẽ tạo ra một dòng chảy thông tin xuyên suốt. Đặc biệt, việc phát triển nền tảng thống nhất kết nối "Tài khoản người học trọn đời" gắn với ứng dụng VNeID sẽ giúp các nhà đầu tư dễ dàng tìm kiếm, đánh giá và tương tác với các dự án tiềm năng trên toàn quốc một cách minh bạch và tin cậy.
Cuối cùng, tăng cường liên kết giữa đào tạo và thực tiễn nhằm bảo đảm chất lượng “đầu ra” của các dự án khởi nghiệp. Cần khuyến khích doanh nghiệp đặt hàng nghiên cứu đối với các cơ sở đào tạo, giảng viên và sinh viên thông qua các cơ chế đồng tài trợ hoặc hợp tác công – tư. Đồng thời, đẩy mạnh hợp tác quốc tế để thu hút các chuyên gia, cố vấn khởi nghiệp nước ngoài đến Việt Nam, cũng như tổ chức các chương trình trao đổi sinh viên quốc tế, qua đó góp phần nâng cao tầm nhìn và năng lực cạnh tranh toàn cầu cho thế hệ trẻ.