Thông tư 22/2021/TT-BGDĐT quy định về đánh giá học sinh trung học cơ sở và học sinh trung học phổ thông, trong đó, đánh giá định kỳ có thể thực hiện bằng nhiều hình thức như: bài kiểm tra trên giấy hoặc trên máy tính, bài thực hành, dự án học tập; và được xây dựng dựa trên ma trận, đặc tả yêu cầu cần đạt.
Cùng với đó, đối với môn Ngữ văn, để tiếp tục khắc phục tình trạng dạy học nặng về thuyết giảng, đọc chép và yêu cầu thuộc lòng theo văn mẫu, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Công văn 3175/BGDĐT-GDTrH ngày 21/7/2022 về việc hướng dẫn kiểm tra, đánh giá môn Ngữ văn. Tiếp đó, ngày 17/12/2024, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Công văn 7991/BGDĐT-GDTrH về việc thực hiện kiểm tra, đánh giá đối với cấp THCS, THPT. Tuy nhiên, theo đánh giá của người viết - là giáo viên Ngữ văn trung học phổ thông, việc ra đề Ngữ văn theo Công văn 7991 dễ mắc sai sót.
Đề kiểm tra theo Công văn 7991 dễ mắc nhiều lỗi
Theo Công văn 7991, ma trận đề kiểm tra có 2 phần: trắc nghiệm khách quan và tự luận; trắc nghiệm có 3 dạng: trắc nghiệm nhiều lựa chọn, trả lời đúng - sai và trả lời ngắn. Người viết là giáo viên cốt cán môn Ngữ văn được biết, Bộ triển khai tập huấn công văn này cho giáo viên cốt cán các môn, trừ môn Ngữ văn. Các sở giáo dục và đào tạo triển khai đại trà cho giáo viên các bộ môn, không có môn Ngữ văn. Ngoài ra, trong các kỳ thi lớn như tuyển sinh lớp 10, tốt nghiệp lớp 12 đề Ngữ văn cũng không theo định dạng Công văn 7991.
Nhưng mới đây, một đề kiểm tra Ngữ văn 9 được xây dựng theo Công văn 7991 đã tạo ra nhiều ý kiến trái chiều. Bởi môn Ngữ văn có tính trừu tượng, đòi hỏi học sinh liên tưởng, tưởng tượng cao. Vì thế, xây dựng câu hỏi trắc nghiệm khách quan là rất khó, dễ mắc lỗi hơn so với đề tự luận, đồng thời không kiểm tra được năng lực học sinh.
Với đề kiểm tra trên, thứ nhất, cách đặt câu hỏi trắc nghiệm chưa chuẩn xác. Chẳng hạn, câu hỏi số 5: “Các từ: ‘tất bật, vui vẻ, hăm hở, ngổn ngang, rưng rưng’ là từ ghép?” và yêu cầu học sinh chọn “Đúng” hoặc “Sai”. Các từ này đều là từ láy (có láy bộ phận và láy toàn bộ). Nếu đáp án chọn “Đúng” thì đây là một sự nhầm lẫn kiến thức khó chấp nhận, còn nếu chọn “Sai” thì đây là câu hỏi gài bẫy học sinh. Với nội dung câu hỏi này, nếu là đề tự luận thì yêu cầu học sinh chỉ ra những từ láy có trong văn bản sẽ tường minh hơn.
Thứ hai, văn chương có tính đa nghĩa nên khi đưa vào khuôn mẫu trắc nghiệm Đúng/Sai, giáo viên vô tình ép học sinh tư duy thiếu chiều sâu. Chẳng hạn, câu 8: “Tác dụng của biện pháp tu từ trên là nói đến sự chuẩn bị chu đáo của bố mẹ cho ngày tết sum họp”, yêu cầu học sinh chọn “Đúng/Sai”
(Biện pháp điệp ngữ được nói đến là ở trong câu 7: “Tết năm sau lại hăm hở dọn nhà. Lại xe đổ cửa. Lại quà ngổn ngang và lời chúc quen thuộc”).
Đặt trong văn cảnh, tác dụng của biện pháp tu từ này không phải là “sự chuẩn bị chu đáo của bố mẹ cho ngày tết sum họp” mà nhấn mạnh sự lặp đi lặp lại đơn điệu, gợi lên nỗi thất vọng và sự trống trải của bố mẹ khi con cái chỉ gửi quà mà không về nhà, nhấn mạnh sự “vắng bóng” con người hơn là sự “chu đáo” trong chuẩn bị.
Nếu học sinh chọn đáp án “Đúng” (đồng ý với sự “chuẩn bị chu đáo”) là một cách cảm thụ hời hợt, chưa hiểu đúng thông điệp của văn bản. Còn nếu học sinh chọn “Sai” thì giáo viên không biết học sinh có thực sự hiểu đúng hay không, vì học sinh không có cơ hội giải thích.
Điều đáng nói, cách thiết kế câu hỏi Đúng/Sai không đúng định dạng trong Công văn 7991. Đúng dạng thì mỗi câu hỏi phải bao gồm 4 ý nhỏ, mỗi ý học sinh phải chọn “Đúng” hoặc “Sai”. Ví dụ: A-Đúng, B-Sai, C-Đúng, D-Sai.
Đề kiểm tra chưa phát huy được năng lực của học sinh
Thông tư 22/2021/TT-BGDĐT, đặc biệt là Công văn 3175/BGDĐT-GDTrH đều nhấn mạnh đề kiểm tra tránh dùng lại ngữ liệu có trong sách giáo khoa đối với môn Ngữ văn. Mục đích nhằm phát huy những mặt tích cực của cá tính, trí tưởng tượng và năng lực của học sinh.
Phần đọc hiểu trong đề trên có nhiều lỗi. Đến phần viết, đề sử dụng chính văn bản có trong sách giáo khoa Cánh diều để kiểm tra đánh giá học sinh đang học bộ Cánh diều là đang đi ngược lại tinh thần đổi mới.
Theo đó, đề yêu cầu học sinh “Phân tích tình cảm cha con vô cùng cảm động trong chiến tranh trong truyện ngắn ‘Chiếc lược ngà’ của Nguyễn Quang Sáng”.
Truyện ngắn này nằm trong sách Ngữ văn 9 bộ Cánh diều từ trang 92 đến 98. Kèm theo đó là hệ thống câu hỏi yêu cầu học sinh tóm tắt truyện, xác định người kể chuyện, tác dụng của ngôi kể, phân tích nhân vật Bé Thu và ông Sáu, tìm hiểu nghệ thuật xây dựng cốt truyện và miêu tả nhân vật,…
Tác phẩm này được dạy và học trên lớp rất kỹ. Như vậy, đề kiểm tra rơi vào lối mòn dễ khiến học sinh “đoán đề - học tủ”. Với cách đánh giá, kiểm tra như vậy, liệu có đánh giá chính xác năng lực học sinh, có chống tình trạng học sinh học thuộc lòng bài mẫu?
Theo người viết, đề dạng này sẽ tạo ra một lớp học sinh chỉ biết suy nghĩ theo, nói theo và viết theo. Điều đó không phù hợp mục tiêu của Chương trình Giáo dục phổ thông 2018.
Đôi điều suy nghĩ về đề kiểm tra Ngữ văn
Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 khuyến khích khả năng sáng tạo của học sinh. Khi nhận xét, đánh giá bài làm của học sinh, đặc biệt là môn Ngữ văn, giáo viên cần tôn trọng cách nghĩ, cách cảm riêng của các em.
Những câu hỏi trắc nghiệm khách quan có thể làm hạn chế trí tưởng tượng và sáng tạo của học sinh. Văn chương có tính đa nghĩa nên một biện pháp tu từ cũng có thể gợi lên nhiều ý nghĩa, do đó câu hỏi tự luận sẽ phát huy trí tưởng tượng và khả năng diễn đạt của học sinh. Chẳng hạn, câu hỏi số 8 học sinh có thể trình bày cách cảm thụ riêng biệt của các em, miễn là hiểu đúng ý nghĩa của câu chuyện. Để chọn Đúng/Sai là cực khó với các em.
Môn Ngữ văn là môn đặc thù nên đề kiểm tra cũng có tính đặc thù, giáo viên cần nghiên cứu kỹ Công văn 3175. Đây là văn bản hướng dẫn kiểm tra, đánh giá dành riêng cho môn Ngữ văn và được tập huấn đại trà, chứ chưa hề tập huấn theo Công văn 7991. Là giáo viên Ngữ văn trung học phổ thông, tôi cho rằng không nên ra đề theo định dạng này nhằm tránh tình trạng biến đề thành một bài tập kỹ thuật thuần túy, không phù hợp với đặc trưng bộ môn.
(*) Văn phong, nội dung bài viết thể hiện góc nhìn, quan điểm của tác giả.