Hoạt động khởi nghiệp của học sinh, sinh viên: Vẫn khoảng cách từ ý tưởng đến thương mại hóa

15/03/2026 06:56
Thu Trang

GDVN -“Chương trình Hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp giai đoạn 2026 - 2035” là chiếc cầu nối để đưa các ý tưởng từ phòng thí nghiệm ra thị trường.

Một trong những mục tiêu của Chương trình “Hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp giai đoạn 2026 - 2035” đặt ra là trong giai đoạn từ 2026 - 2030 phấn đấu mỗi năm ít nhất 40 dự án khởi nghiệp của nhà giáo, người học được đầu tư hoặc kết nối nguồn vốn; giai đoạn 2031 - 2035 phấn đấu mỗi năm ít nhất 70 dự án.

Theo các cơ sở giáo dục, để có thể đạt được mục tiêu trên, cần có “cú hích” đúng chỗ, đồng thời, mối liên kết của Nhà nước - nhà trường - nhà doanh nghiệp - nhà đầu tư cần được nâng cấp.

Không có cơ chế hỗ trợ khởi nghiệp hiệu quả, nhiều công trình nghiên cứu của nhà giáo và người học sẽ mãi nằm trên giấy

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Tiến sĩ Phạm Thị Hồng Phượng - Cố vấn cao cấp Trung tâm Đổi mới Sáng tạo khởi nghiệp và Chuyển giao công nghệ, Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh chia sẻ, việc hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp không đơn thuần là giúp các em mở một doanh nghiệp hay tạo ra một sản phẩm bán ra thị trường. Đây là một chiến lược để hình thành nguồn nhân lực chất lượng cao cho nền kinh tế số và kinh tế xanh.

Tầm quan trọng của hoạt động này thể hiện qua ba khía cạnh cốt lõi. Trước hết là việc thay đổi tư duy. Ở độ tuổi này, các em đang trong giai đoạn vàng để hình thành tư duy đổi mới sáng tạo. Việc tiếp cận với khởi nghiệp giúp các em rèn luyện tính chủ động, khả năng chịu đựng áp lực và kỹ năng giải quyết vấn đề thực tiễn.

Bên cạnh đó, đây còn là động lực thúc đẩy thương mại hóa tri thức. Các cơ sở giáo dục là nơi tập trung các nghiên cứu khoa học. Nếu chúng ta không có cơ chế hỗ trợ khởi nghiệp, nhiều công trình nghiên cứu của nhà giáo và người học sẽ mãi nằm trên giấy. “Chương trình Hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp giai đoạn 2026 - 2035” chính là chiếc cầu nối để đưa các ý tưởng từ phòng thí nghiệm ra thị trường, đóng góp trực tiếp vào GDP quốc gia.

Ngoài ra, khi đầu tư vào khởi nghiệp trong trường học, chúng ta đang xây dựng "thế hệ doanh nhân dân tộc" mới. Những người trẻ này không chỉ am hiểu công nghệ mà còn có ý thức về trách nhiệm xã hội và môi trường, phù hợp với xu hướng chuyển đổi xanh mà tôi luôn tâm huyết thúc đẩy.

Cũng theo Tiến sĩ Phạm Thị Hồng Phượng, hiện nay, hoạt động khởi nghiệp đang ở thời điểm có sự giao thoa rất thú vị giữa cơ hội và thách thức.

Về thuận lợi, việc Phó Thủ tướng ký phê duyệt Chương trình hỗ trợ giai đoạn mới là minh chứng cho sự quyết tâm của Chính phủ. Hiện nay, mạng lưới các trung tâm đổi mới sáng tạo, các Cộng đồng Khởi nghiệp Sáng tạo như Ecotech đã phủ rộng, tạo ra môi trường kết nối chuyên gia và nguồn lực rất tốt. Hơn nữa, thế hệ Gen Z và Alpha hiện nay có lợi thế cực lớn về công nghệ và khả năng tiếp cận thông tin toàn cầu. Các em không còn bỡ ngỡ với AI, Blockchain hay các mô hình kinh doanh tuần hoàn.

Tuy nhiên, hoạt động này vẫn còn gặp nhiều thách thức. Một trong những rào cản lớn nhất vẫn là "văn hóa sợ thất bại". Trong môi trường giáo dục, áp lực về điểm số và bằng cấp đôi khi vẫn lấn át tinh thần thử sai.

Thứ hai là sự thiếu hụt về "vốn thực" và "vốn kỹ năng". Nhiều dự án của học sinh, sinh viên rất hay về mặt ý tưởng nhưng lại thiếu tính thực tế về tài chính và quản trị vận hành.

Đối với nhà trường, thách thức nằm ở nguồn lực đầu tư cho hạ tầng và đội ngũ mentor (người hướng dẫn). Không phải giảng viên nào cũng có trải nghiệm thương trường để dẫn dắt các em khởi nghiệp thực chiến. Ngoài ra, việc kết nối giữa nhà trường và doanh nghiệp đôi khi vẫn dừng lại ở mức ký kết ghi nhớ (MoU) chứ chưa đi sâu vào các đơn đặt hàng công nghệ cụ thể.

Dự án “Gừng Sưởi Ấm, Sinh Kế Xanh” mang thương hiệu NETGINS của Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ CHí Minh (IHU) tại Vòng Chung kết Cuộc thi Khởi nghiệp Xanh Lần thứ 11. Ảnh: Website nhà trường.
Dự án “Gừng Sưởi Ấm, Sinh Kế Xanh” mang thương hiệu NETGINS của Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ CHí Minh (IHU) tại Vòng Chung kết Cuộc thi Khởi nghiệp Xanh Lần thứ 11. Ảnh: Website nhà trường.

Cùng bàn về vấn đề này, đại diện Trung tâm Ươm tạo Doanh nghiệp công nghệ - Trường Đại học Bách Khoa, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, tại trường hoạt động hỗ trợ học sinh, sinh viên khởi nghiệp đã từ lâu được tích hợp trong một chuỗi liên tục từ truyền cảm hứng, đào tạo, nghiên cứu khoa học đến ươm tạo startup và spin-off.

Trong giai đoạn từ 2010 đến nay, nhà trường đã tổ chức 125 sự kiện truyềncảm hứng, đào tạo khởi nghiệp sáng tạo cho 5.296 sinh viên, ươm tạo được 97 ý tưởng khởi nghiệp trong đó có 7 dự án đã được kết nối đầu tư với kinh phí huy động lớn nhất lên đến 7,65 tỷ…

Điều này cho thấy rằng khởi nghiệp trong sinh viên không tách rời mà là một phần quan trọng mang tính nền tảng trong hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo của Nhà trường.

Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất đối với các hoạt động khởi nghiệp của sinh viên nói chung và nhà trường nói riêng vẫn là khoảng cách từ ý tưởng đến thương mại hóa.

Nhiều nhóm có ý tưởng tốt nhưng còn thiếu kinh nghiệm về thị trường, khách hàng, mô hình kinh doanh, sở hữu trí tuệ và gọi vốn giai đoạn đầu. Bên cạnh đó, dù chính sách đã tiến bộ, ở cấp thực thi vẫn còn những điểm cần tiếp tục hoàn thiện, như cơ chế định giá tài sản trí tuệ, góp vốn bằng tài sản trí tuệ, sử dụng kết quả nghiên cứu dùng ngân sách nhà nước để thương mại hóa, hay bố trí nguồn lực linh hoạt cho giai đoạn khả thi kỹ thuật (proof-of-concept), sản phẩm mẫu thử (prototype) và thí điểm (pilot). Đây là những nút thắt ảnh hưởng trực tiếp đến việc hình thành startup hoặc spin-off từ trường đại học.

Còn theo Tiến sĩ Hoàng Ngọc Hùng - Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, Trường Đại học Hồng Đức chia sẻ, hoạt động khởi nghiệp của học sinh, sinh viên có nhiều thuận lợi đáng ghi nhận.

Hoạt động khởi nghiệp không chỉ định hướng sinh viên học tập để “đi xin việc”, mà còn giúp các em chuyển sang tư duy tạo ra việc làm. Thông qua quá trình tham gia các dự án, các em có cơ hội nhận diện rõ hơn thế mạnh, năng lực của bản thân, từ đó chủ động lựa chọn con đường nghề nghiệp phù hợp, hạn chế tình trạng làm trái ngành hoặc thất nghiệp sau khi tốt nghiệp.

Đồng thời, môi trường khởi nghiệp cũng được xem như một “phòng thí nghiệm” thực tiễn sống động. Các hoạt động khởi nghiệp trong nhà trường góp phần gắn kết giữa đào tạo, nghiên cứu khoa học với thực tiễn sản xuất – kinh doanh. Qua đó tạo điều kiện để các ý tưởng nghiên cứu của giảng viên và sinh viên có cơ hội được chuyển hóa thành sản phẩm và mô hình kinh doanh trong thực tế.

Không chỉ dừng lại ở phạm vi nhà trường, các hoạt động khởi nghiệp còn góp phần thúc đẩy tinh thần đổi mới sáng tạo, tạo ra những ý tưởng và mô hình kinh doanh mới, qua đó đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế – xã hội của địa phương và đất nước.

Cuộc thi “Học sinh - Sinh viên khởi nghiệp” là hoạt động thường niên của Trường Đại học Hồng Đức. Ảnh: Website nhà trường.
Cuộc thi “Học sinh - Sinh viên khởi nghiệp” là hoạt động thường niên của Trường Đại học Hồng Đức. Ảnh: Website nhà trường.

Cần xây dựng mối liên kết chặt chẽ giữa các chủ thể trong hệ sinh thái khởi nghiệp

Trước mục tiêu giai đoạn từ 2026 - 2030 phấn đấu mỗi năm ít nhất 40 dự án khởi nghiệp của nhà giáo, người học được đầu tư hoặc kết nối nguồn vốn; giai đoạn 2031 - 2035 phấn đấu mỗi năm ít nhất 70 dự án. Theo cố vấn cao cấp Trung tâm Đổi mới Sáng tạo khởi nghiệp và Chuyển giao công nghệ, Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh, hệ sinh thái khởi nghiệp giống như một rạn san hô, nó chỉ phát triển khi có sự cộng sinh chặt chẽ giữa các thành phần. Để đạt được mục tiêu trên, mối liên kết "4 nhà" (Nhà nước - Nhà trường - Nhà doanh nghiệp - Nhà đầu tư) cần được nâng cấp.

Nhà trường là trung tâm của sự ươm tạo. Nhà trường không chỉ cung cấp kiến thức mà phải là nơi "đặt hàng" các bài toán thực tế. Khi doanh nghiệp đưa ra bài toán và nhà trường đưa ra giải pháp thông qua các dự án của sinh viên, đó là mối liên kết bền vững nhất.

Bên cạnh đó, doanh nghiệp cần đóng vai trò như những người cố vấn (mentor) và là “phòng thí nghiệm” ngoài giảng đường. Doanh nghiệp không nên chỉ xuất hiện với tư cách nhà tài trợ cho các cuộc thi, mà cần tham gia sâu hơn vào quá trình huấn luyện. Đồng thời tạo điều kiện để sinh viên thực tập, trải nghiệm khởi nghiệp ngay tại các bộ phận nghiên cứu và phát triển (R&D). Sự đồng hành này sẽ giúp các dự án của sinh viên bám sát nhu cầu thị trường, tránh việc hình thành những sản phẩm thiếu tính ứng dụng.

Ngoài ra, các nhà đầu tư và quỹ đầu tư mạo hiểm cũng cần được kết nối sớm với hệ sinh thái khởi nghiệp trong trường đại học. Thay vì chờ đến khi sinh viên thành lập doanh nghiệp, cần xây dựng các sàn giao dịch ý tưởng hoặc tổ chức thường xuyên các ngày hội Demo Day, tạo cơ hội để nhà đầu tư thiên thần tiếp cận và tìm kiếm những dự án tiềm năng ngay từ khi còn ở giai đoạn ý tưởng.

Cuối cùng, Nhà nước đóng vai trò điều phối và kiến tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho hệ sinh thái khởi nghiệp. Các cơ quan quản lý cần minh bạch hóa dữ liệu về nguồn vốn, đội ngũ chuyên gia và các dự án tiềm năng, qua đó giúp các bên dễ dàng kết nối với nhau. Việc hình thành các mạng lưới chuyên gia và cố vấn khởi nghiệp ở cấp quốc gia sẽ trở thành sợi dây liên kết quan trọng, góp phần dẫn dắt và định hướng hệ sinh thái phát triển đúng hướng.

Cũng theo cô Phượng, nếu chúng ta có những cú hích đúng chỗ thì mục tiêu trên hoàn toàn có thể đạt được.

Trước hết, hoàn thiện cơ chế tài chính đặc thù cho khởi nghiệp trong trường học. Cần quy định rõ ràng về việc sử dụng tài sản công, quỹ phát triển khoa học công nghệ của nhà trường để đầu tư mồi cho các dự án. Nếu không có vốn mồi từ nhà trường, các em rất khó để đi đến giai đoạn hoàn thiện sản phẩm mẫu để gọi vốn từ các quỹ đầu tư mạo hiểm.

Thứ hai, đổi mới nội dung chương trình đào tạo theo hướng linh hoạt. Khởi nghiệp không nên chỉ là một môn học tự chọn cưỡi ngựa xem hoa mà cần được tích hợp vào các đồ án tốt nghiệp, các bài tập thực hành. Trường học sẽ là cầu nối để dự án khởi nghiệp của học sinh, sinh viên đến với thị trường qua doanh nghiệp và nhà đầu tư.

Ba là, đầu tư mạnh mẽ vào hạ tầng dùng chung. Thay vì mỗi trường xây một trung tâm nhỏ lẻ, chúng ta nên đầu tư vào các phòng Lab đổi mới sáng tạo dùng chung cho cụm trường hoặc khu vực. Điều này giúp tối ưu hóa thiết bị đắt tiền và tạo không gian cho sinh viên các trường khác nhau giao thoa ý tưởng.

Bốn là, chính sách ưu đãi thuế và tín dụng. Cần có những gói vay ưu đãi từ ngân hàng chính sách cho các dự án khởi nghiệp của người học đã qua vòng ươm tạo tại nhà trường. Đồng thời, doanh nghiệp đầu tư vào dự án khởi nghiệp nên được giảm trừ thuế thu nhập doanh nghiệp như một hình thức khuyến khích đầu tư cho giáo dục và khoa học

Còn theo đại diện Trung tâm Ươm tạo Doanh nghiệp công nghệ - Trường Đại học Bách Khoa, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, để các trường có thể đạt được mục tiêu này, cần nâng cấp chất lượng ươm tạo dự án thông qua chuyển quy trình từ hỗ trợ rời rạc dưới dạng sự kiện sang hỗ trợ theo cả chuỗi phát triển dự án. Bởi một dự án muốn đi tới giai đoạn xem xét được đầu tư thường phải qua các bước: ý tưởng, chứng minh khả thi kỹ thuật (proof-of-concept), tạo sản phẩm mẫu thử (prototype), thí điểm (pilot), xác thực thị trường, rồi mới đến gọi vốn.

Nếu chỉ dừng ở cuộc thi hoặc tập huấn ngắn hạn thì rất khó tạo ra số lượng dự án được đầu tư một cách thực chất. Vì vậy, cần có hệ thống tiền ươm tạo, ươm tạo, tăng tốc và hậu ươm tạo gắn chặt với nhu cầu thị trường và doanh nghiệp. Mục tiêu nêu trong Quyết định 336/QĐ-TTg cũng chỉ khả thi khi hệ sinh thái hỗ trợ được thiết kế liên tục như trên.

Về chính sách, cần tiếp tục cụ thể hóa các quy định mới của Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo 2025 theo hướng thuận lợi hơn cho thương mại hóa trong đại học. Đặc biệt là với tài sản trí tuệ, phân chia lợi ích, sử dụng kết quả nghiên cứu, và cơ chế chấp nhận rủi ro trong đổi mới sáng tạo.

Về đầu tư, cần có ít nhất ba lớp nguồn lực: hỗ trợ nhỏ ở giai đoạn đầu để làm mẫu thử; nguồn lực đồng hành từ doanh nghiệp và địa phương để làm thí điểm; mạng lưới kết nối nhà đầu tư cho các dự án đã chứng minh được công nghệ và thị trường.

Đặc biệt, nên có những cam kết về tính khả thi của dự án và cơ chế giám sát khi triển khai. Tuy nhiên điều này cần phải thiết kế phù hợp với bản chất của khởi nghiệp sáng tạo, bởi chưa thể yêu cầu mọi dự án ở giai đoạn rất sớm phải chứng minh ngay doanh thu hay thành công thương mại.

Cơ chế này cần được thiết kế hợp lý, có cam kết theo từng mốc phát triển như: chứng minh vấn đề cần giải quyết; hoàn thành proof-of-concept; tạo mẫu thử; có phản hồi người dùng; kế hoạch phát triển tài sản trí tuệ hoặc có đối tác thử nghiệm. Cách tiếp cận này vừa có trách nhiệm giải trình, vừa không làm mất động lực sáng tạo cũng như phù hợp theo tinh thần chấp nhận rủi ro có kiểm soát theo Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo 2025.

Đặc biệt, cơ chế giám sát nên theo hướng đồng hành hơn là chỉ kiểm soát. Có thể áp dụng đánh giá theo từng giai đoạn, có chuyên gia cố vấn, có đầu ra rõ cho từng chặng phát triển và cho phép điều chỉnh khi thực tiễn thị trường thay đổi.

Ngoài ra, với các trường đại học đào tạo về kỹ thuật, cơ chế giám sát còn nên gắn với mức độ hoàn thiện công nghệ, khả năng tạo nguyên mẫu, kết quả thử nghiệm, lộ trình phát triển tài sản trí tuệ và cơ hội ra thị trường. Như vậy, nguồn lực đầu tư mới được sử dụng hiệu quả mà vẫn đúng tinh thần khuyến khích khởi nghiệp sáng tạo.

Khóa đào tạo “Khởi nghiệp sáng tạo trong thời đại số do Trung tâm Ươm tạo Doanh nghiệp Công nghệ, Trường Đại học Bách Khoa, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức.
Khóa đào tạo “Khởi nghiệp sáng tạo trong thời đại số do Trung tâm Ươm tạo Doanh nghiệp Công nghệ, Trường Đại học Bách Khoa, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức.

Đồng quan điểm, Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, Trường Đại học Hồng Đức chia sẻ, để đạt mục tiêu như trên, cần tập trung vào một số giải pháp trọng tâm. Trước hết, cần hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm khuyến khích các trường đại học và viện nghiên cứu thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Đồng thời tạo điều kiện để giảng viên, sinh viên mạnh dạn thành lập doanh nghiệp khởi nghiệp.

Bên cạnh đó, cần tăng cường đầu tư cho các trung tâm đổi mới sáng tạo và vườn ươm khởi nghiệp trong các cơ sở giáo dục, qua đó tạo môi trường thuận lợi để thử nghiệm, ươm tạo và phát triển các dự án ngay từ giai đoạn hình thành ý tưởng. Song song với đó, việc đa dạng hóa các nguồn vốn dành cho khởi nghiệp sinh viên cũng rất quan trọng, bao gồm quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ đổi mới sáng tạo, nguồn vốn từ doanh nghiệp cũng như các chương trình hỗ trợ của Nhà nước.

Ngoài ra, cần chú trọng đào tạo các kỹ năng thiết yếu cho sinh viên như tư duy khởi nghiệp, quản trị doanh nghiệp, kỹ năng gọi vốn và phát triển thị trường. Đây là những yếu tố quan trọng góp phần nâng cao chất lượng dự án, giúp các ý tưởng khởi nghiệp có khả năng phát triển và cạnh tranh tốt hơn trên thị trường.

“Việc có cam kết về tính khả thi của dự án cùng với cơ chế giám sát trong quá trình triển khai là yếu tố rất cần thiết để bảo đảm hiệu quả của các chương trình hỗ trợ khởi nghiệp. Theo đó, các dự án khi nhận được nguồn vốn hỗ trợ cần xây dựng kế hoạch kinh doanh rõ ràng, xác định mục tiêu cụ thể và lộ trình triển khai khả thi. Điều này không chỉ giúp bảo đảm việc sử dụng nguồn lực đúng mục đích, hiệu quả mà còn góp phần nâng cao tính chuyên nghiệp của các nhóm khởi nghiệp.

Bên cạnh đó, cần thiết lập cơ chế theo dõi, đánh giá định kỳ đối với các dự án đã nhận hỗ trợ, đồng thời kết hợp với hoạt động tư vấn, cố vấn từ các chuyên gia và doanh nghiệp. Cách tiếp cận này không mang tính kiểm soát cứng nhắc, mà hướng đến việc đồng hành, hỗ trợ các nhóm khởi nghiệp kịp thời tháo gỡ khó khăn, từng bước hoàn thiện mô hình và phát triển dự án một cách bền vững”, thầy Hùng chia sẻ.

Thu Trang