Trước đề xuất của Công ty Cổ phần Phát triển Bất động sản Phát Đạt về việc di dời Trường Đại học Bách khoa - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh khỏi cơ sở tại số 268 Lý Thường Kiệt (phường Diên Hồng, Thành phố Hồ Chí Minh), nhiều ý kiến cho rằng cần cân nhắc thận trọng, đánh giá toàn diện các yếu tố lịch sử, học thuật và chiến lược phát triển khoa học - công nghệ của thành phố.
Giá trị của một di sản tri thức giữa lòng đô thị
Chia sẻ với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thiện Tống - nguyên Chủ nhiệm Bộ môn Kỹ thuật hàng không, Trường Đại học Bách khoa - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, người đã gắn bó với nhà trường từ năm 1974 đến nay, cho rằng việc áp dụng chủ trương di dời các trường đại học ra khỏi nội đô cần được xem xét kỹ lưỡng, tránh cách tiếp cận máy móc.
Theo thầy Tống, các lập luận cho rằng việc di dời trường đại học ra khỏi trung tâm sẽ góp phần giảm ùn tắc giao thông cần được đánh giá dựa trên thực tế hoạt động hiện nay của nhà trường.
Vị chuyên gia cũng bày tỏ lo ngại khi đề xuất di dời xuất phát từ một doanh nghiệp bất động sản, bởi nguy cơ khu đất sau đó có thể được khai thác cho các dự án thương mại, cao tầng.
“Nếu khu đất này sau đó trở thành các tổ hợp địa ốc, thương mại thì nguy cơ ùn tắc giao thông ở khu vực trung tâm có thể còn tăng lên, thầy Tống bày tỏ.
Theo Phó Giáo sư Nguyễn Thiện Tống, trong bối cảnh phần lớn hoạt động đào tạo đại trà đã được chuyển lên khu đô thị Đại học Quốc gia, cơ sở 268 Lý Thường Kiệt nên được định hướng phát triển theo mô hình đại học nghiên cứu, tập trung cho đào tạo sau đại học và các chương trình chất lượng cao.
“Hiện nay chúng ta đang thiếu những trung tâm nghiên cứu mạnh, nơi đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ, triển khai các dự án khoa học - công nghệ quy mô lớn. Cơ sở hiện hữu của Bách khoa hoàn toàn có thể phát triển theo hướng này, thay vì dỡ bỏ hoặc di dời”, thầy Tống đề xuất.
Theo thầy Tống, hệ thống cơ sở vật chất của trường gồm giảng đường, phòng thí nghiệm, xưởng thực hành hiện đại đã được đầu tư trong nhiều năm qua, nếu phá bỏ hoặc di chuyển sẽ gây lãng phí lớn. Đồng thời, việc thay đổi toàn bộ không gian học thuật lâu đời cũng có thể ảnh hưởng tới đội ngũ giảng viên và hoạt động nghiên cứu.
“Không chỉ là câu chuyện vật chất, việc di dời còn tác động tới những giá trị văn hóa, lịch sử và tinh thần đã hình thành suốt gần 70 năm của một ngôi trường kỹ thuật hàng đầu. Đây là một cơ sở giáo dục do chính người Việt Nam xây dựng và phát triển từ năm 1957 đến nay, gắn với ký ức của nhiều thế hệ giảng viên, sinh viên”, thầy Tống bày tỏ.
Chia sẻ thêm, Phó Giáo sư Nguyễn Thiện Tống cho rằng nếu được đầu tư đúng hướng, cơ sở Bách khoa tại trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh có thể trở thành một trung tâm nghiên cứu và đổi mới sáng tạo quan trọng, kết nối chặt chẽ với doanh nghiệp, nhà đầu tư và cộng đồng khoa học.
Theo thầy Tống, điều làm nên sức mạnh của một đại học không chỉ là quy mô hay cơ sở vật chất, mà còn là vị trí trong mạng lưới kết nối giữa nhà trường với thị trường, doanh nghiệp và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.
Từ đó, Phó Giáo sư Nguyễn Thiện Tống cho rằng một phương án khả thi hơn là tiếp tục nâng cấp cơ sở 268 Lý Thường Kiệt để phục vụ đào tạo sau đại học, các chương trình chất lượng cao, đồng thời phát triển thêm các trung tâm nghiên cứu, phòng thí nghiệm trọng điểm và không gian hỗ trợ khởi nghiệp công nghệ.
Nếu quy hoạch theo hướng này, Bách khoa vừa có thêm không gian phát triển học thuật, vừa giữ được một biểu tượng khoa học - công nghệ lâu đời của Thành phố Hồ Chí Minh. Theo thầy Tống, điều quan trọng không chỉ là giữ lại một cơ sở đào tạo, mà là đặt trường trong một vị trí chiến lược “đúng chỗ và đúng lúc”, nơi sự kết nối giữa nhà trường với doanh nghiệp, nhà đầu tư và thị trường công nghệ diễn ra tự nhiên, liên tục. Khi ranh giới giữa đại học và thị trường càng mỏng, cơ hội chuyển giao tri thức và hình thành các ý tưởng đổi mới sáng tạo càng lớn.
Vì sao nhiều đại học danh tiếng vẫn hiện diện ở trung tâm thành phố?
Đồng quan điểm, ông Lưu Nhật Huy - Giám đốc điều hành Viện Phát triển Quản trị và Công nghệ - IMT, cũng đồng thời là một cựu sinh viên, giảng viên, và thành viên Ban đại diện Cộng đồng Cựu sinh viên Phú Thọ-Bách khoa, cho rằng câu chuyện không chỉ nằm ở bài toán hạ tầng hay quy hoạch đô thị, mà còn liên quan đến giá trị lịch sử và di sản học thuật của một cơ sở giáo dục lâu đời.
Theo ông Huy, khu đất 268 Lý Thường Kiệt gắn với lịch sử hình thành của Trung tâm Kỹ thuật Quốc gia Phú Thọ từ năm 1957, tiền thân của Trường Đại học Bách khoa ngày nay. Trong nhiều thập niên, nơi đây đã chứng kiến những giai đoạn phát triển quan trọng của khoa học - kỹ thuật Việt Nam, đồng thời là cái nôi đào tạo nhiều thế hệ kỹ sư, nhà khoa học đang làm việc tại các tập đoàn đa quốc gia và cơ quan quản lý trong và ngoài nước.
“Đối với nhiều cựu sinh viên, cơ sở Lý Thường Kiệt không chỉ là một khuôn viên trường học mà còn là biểu tượng của ký ức và niềm tự hào. Họ có thể không nhớ rõ từng giảng đường ở cơ sở mới, nhưng hình ảnh thư viện, sân bóng hay những dãy giảng đường ở Bách khoa Lý Thường Kiệt luôn là nơi họ nghĩ tới khi nhắc về ngôi trường của mình”, ông chia sẻ.
Từ góc nhìn phát triển đô thị, ông Huy cho rằng: “Thành phố Hồ Chí Minh không chỉ được biết đến bởi những tòa nhà cao tầng, mà còn bởi hai trụ cột quan trọng là giáo dục và y tế. Cách chúng ta ứng xử với một di sản tri thức như Đại học Bách khoa cũng chính là lời tuyên bố về những giá trị mà thành phố lựa chọn gìn giữ”, ông nói.
Ông Huy dẫn ra nhiều ví dụ quốc tế cho thấy các đại học danh tiếng thường được giữ lại ở trung tâm đô thị như một phần của hệ sinh thái tri thức.
Đại học Sorbonne tại Paris nằm ngay khu Latin - trung tâm lịch sử và văn hóa của thành phố; Đại học Columbia đặt tại Manhattan, đóng vai trò kết nối giữa giới học thuật với hệ sinh thái tài chính và công nghệ của New York. Tại châu Á, Đại học Quản lý Singapore (SMU) được xây dựng theo mô hình “city campus” ngay trong lõi đô thị, giúp sinh viên gắn kết trực tiếp với môi trường doanh nghiệp và đời sống kinh tế. Tương tự, Đại học Kỹ thuật Munich (TUM) vẫn duy trì cơ sở trung tâm như một đầu mối kết nối với doanh nghiệp, dù có các khu nghiên cứu lớn ở ngoại ô.
Theo ông Huy, những mô hình này cho thấy sự hiện diện của một trường đại học trong lòng đô thị không đơn thuần là câu chuyện về quỹ đất, mà còn là chiến lược duy trì sức sống tri thức và sự kết nối giữa học thuật với thị trường.
“Tất nhiên, việc giữ nguyên hiện trạng cơ sở vật chất cũ kỹ cũng không phải là lựa chọn tối ưu. Nhưng thay vì chuyển đổi khu đất này thành dự án bất động sản hay một công viên đơn thuần, chúng ta hoàn toàn có thể nâng cấp nơi đây thành một trung tâm khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo giữa lòng thành phố. Giá trị kinh tế - xã hội từ một hệ sinh thái tri thức như vậy có thể lớn hơn rất nhiều so với các dự án thương mại”, ông nhận định.
Theo ông Huy, trong bối cảnh thành phố đang hướng tới phát triển kinh tế tri thức, những không gian sáng tạo, nghiên cứu và kết nối công nghệ là tài sản chiến lược.
“Chúng ta không thiếu những khu đô thị hay cao ốc mới, nhưng lại rất cần những "thánh đường" của tri thức và sáng tạo. Giá trị của một mảnh đất không chỉ nằm ở số tầng của những tòa nhà có thể xây dựng trên đó, mà còn ở những đóng góp lâu dài cho sự phát triển của xã hội”, ông nói.
Từ đó, vị chuyên gia cho rằng Thành phố Hồ Chí Minh cần những quyết sách mang tầm nhìn dài hạn, vượt ra ngoài cách tiếp cận thuần túy về “đất vàng - bất động sản”, để Trường Đại học Bách khoa tiếp tục phát huy vai trò như một trung tâm tri thức và đổi mới sáng tạo của đô thị lớn nhất cả nước.
Di dời đại học nội đô: Cân bằng giữa giảm tải và gìn giữ "hồn cốt" đô thị
Dưới góc nhìn quy hoạch đô thị, đề xuất di dời các cơ sở giáo dục đại học ra khỏi khu vực nội đô không phải là vấn đề mới, mà đã được đặt ra trong nhiều năm qua tại các đô thị lớn.
Tiến sĩ, Kiến trúc sư Trương Văn Quảng - Phó Chủ tịch Hội Quy hoạch phát triển đô thị Việt Nam cho biết, chủ trương này xuất phát từ mục tiêu giảm tải áp lực dân số, hạ tầng cho khu vực trung tâm.
Tuy nhiên, theo ông Quảng, việc di dời không thể được nhìn nhận đơn thuần dưới góc độ giãn dân hay tận dụng quỹ đất, mà cần đặt trong tổng thể bài toán quy hoạch, có sự phối hợp giữa cơ quan quản lý đô thị và ngành giáo dục.
Vị chuyên gia cho rằng, với những cơ sở giáo dục có lịch sử lâu đời như Trường Đại học Bách khoa - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, việc di dời cần được cân nhắc kỹ lưỡng hơn, bởi không chỉ là câu chuyện hạ tầng mà còn liên quan đến giá trị lịch sử - văn hóa của đô thị.
“Trường được thành lập từ năm 1957, tức gần 70 năm, gắn bó với quá trình phát triển của Thành phố Hồ Chí Minh qua nhiều giai đoạn, từ trước khi giải phóng đất nước cho tới ngày nay. Trong mỗi đô thị, những công trình như vậy góp phần tạo nên dấu ấn, thậm chí là “phần hồn” của đô thị”, ông nói.
Theo ông Quảng, khuôn viên của trường nằm trong lõi đô thị, nên nếu di dời hoàn toàn, cần đặt ra câu hỏi liệu có ảnh hưởng đến bản sắc và ký ức đô thị hay không.
“Hiện có nhiều ý kiến cho rằng, di dời là cần thiết để giảm tải trung tâm, nhưng cũng có lo ngại việc này sẽ làm nhòa đi các giá trị lịch sử, di sản”, ông Quảng chia sẻ.
Từ đó, chuyên gia đề xuất một cách tiếp cận dung hòa hơn: không nên di dời toàn bộ mà có thể thực hiện theo lộ trình, từng bước giảm quy mô đào tạo tại cơ sở nội đô.
“Không nên “làm trắng” hoàn toàn. Có thể chuyển dần quy mô sinh viên ra khu vực đô thị vệ tinh, trong khi cơ sở hiện hữu vẫn được giữ lại, phục vụ công tác đào tạo sau đại học, các chương trình chất lượng cao, hợp tác quốc tế với quy mô phù hợp”, ông gợi ý.
Theo ông, đây cũng là mô hình đã được nhiều quốc gia áp dụng, đặc biệt tại các đô thị có bề dày lịch sử và hệ thống đại học truyền thống lâu đời.
“Những trường đại học có lịch sử lâu đời thường được xem là một phần của di sản kiến trúc - văn hóa đô thị. Ở các đô thị châu Âu, các trường này còn góp phần tạo nên thương hiệu, bản sắc riêng mà không phải nơi nào cũng có”, ông phân tích.
Ở tầm vĩ mô, ông Quảng nhấn mạnh, giáo dục là một trong những trụ cột phát triển quốc gia, do đó việc quy hoạch, sắp xếp lại hệ thống cơ sở giáo dục cần được thực hiện một cách thận trọng, có tầm nhìn dài hạn.
Theo Tiến sĩ, Kiến trúc sư Trương Văn Quảng, trong quá trình hiện thực hóa mục tiêu xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh trở thành đô thị “văn minh, hiện đại và nghĩa tình”, việc ứng xử với các công trình mang giá trị lịch sử, văn hóa cũng là một thước đo của yếu tố “nghĩa tình”.
“Nếu chỉ nhìn từ góc độ lợi ích kinh tế hay đề xuất của doanh nghiệp thì có thể đơn giản, nhưng bài toán ở đây là phải cân bằng: vừa giảm tải được khu vực trung tâm, vừa giữ được giá trị cốt lõi, bản sắc và “hồn cốt” đô thị”, ông nhấn mạnh.
Về giải pháp, Tiến sĩ, Kiến trúc sư Trương Văn Quảng cho rằng, Thành phố Hồ Chí Minh cần tổ chức rà soát, đánh giá và phân loại các cơ sở giáo dục trên cơ sở một bộ tiêu chí rõ ràng.
“Cần kiểm đếm, đánh giá nhu cầu, đồng thời xem xét hệ giá trị của từng trường gắn với kinh tế - xã hội, văn hóa đô thị để đưa ra quyết định phù hợp. Việc này phải gắn với chiến lược phát triển dài hạn và có lộ trình cụ thể”, ông đề xuất.
Ông cũng lưu ý, ngành giáo dục cần đóng vai trò chủ động, phối hợp với chính quyền thành phố trong việc xác định địa điểm phát triển mới, đồng thời bản thân các trường cũng phải tự đánh giá cơ hội, thách thức để đưa ra kiến nghị.
“Nguyên tắc là phải hợp tình, hợp lý, có trước có sau, mang tính nhân văn. Suy cho cùng, con người vẫn là trung tâm của mọi quyết định quy hoạch”, ông nói.
Theo vị chuyên gia, bài toán đặt ra không chỉ là di dời hay không di dời, mà là làm sao để hài hòa giữa phát triển và bảo tồn, giữa nhu cầu hiện tại và giá trị tích lũy qua thời gian.
“Đây là một bài toán mang tính khoa học, đòi hỏi cách tiếp cận tổng thể để vừa đáp ứng yêu cầu phát triển mới của đô thị, vừa gìn giữ được các giá trị văn hóa, di sản - những yếu tố tạo nên bản sắc riêng của thành phố”, Phó Chủ tịch Hội Quy hoạch phát triển đô thị Việt Nam nhấn mạnh.
Được thành lập năm 1957, tiền thân là Trung tâm Quốc gia Kỹ thuật, Trường Đại học Bách khoa - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh hiện là một trong những trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ lớn ở khu vực phía Nam.
Nhà trường hiện có 667 giảng viên trên tổng số 1.061 viên chức và người lao động, trong đó có 16 giáo sư, 128 phó giáo sư và 284 tiến sĩ. Quy mô đào tạo gồm 27 ngành tiến sĩ, 30 ngành thạc sĩ và 44 ngành đại học với 11 khoa chuyên môn trong nhiều lĩnh vực kỹ thuật - công nghệ.