Trong bối cảnh nhiều địa phương đang đẩy mạnh nâng cao chất lượng giáo dục ngoại ngữ, tỉnh Cao Bằng đã thể hiện quyết tâm khi thành lập Ban Chỉ đạo triển khai Đề án “Đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học giai đoạn 2025 - 2035, tầm nhìn đến năm 2045”.
Tuy nhiên, tại các trường học vùng cao, nơi điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn, mục tiêu này đang đứng trước không ít thách thức. Từ thực tế thiếu giáo viên, hạn chế về cơ sở vật chất đến những rào cản trong khả năng tiếp cận ngoại ngữ của học sinh, bức tranh dạy và học tiếng Anh tại nhiều trường miền núi vẫn còn nhiều điều cần tháo gỡ để có thể tiến gần hơn tới mục tiêu đã đặt ra.
Một giáo viên gánh cả hai cấp học
Chia sẻ về thực trạng dạy và học tiếng Anh tại đơn vị, cô Mông Thị Hoan - Hiệu trưởng Trường Phổ thông dân tộc bán trú Tiểu học và Trung học cơ sở Phan Thanh (xã Khánh Xuân, tỉnh Cao Bằng) cho biết, nhà trường đang gặp nhiều khó khăn do thiếu giáo viên tiếng Anh.
Hiện nay, trường có 30 lớp với tổng số hơn 700 học sinh, trong đó 8 lớp trung học cơ sở và 22 lớp tiểu học. Tuy nhiên, toàn trường chỉ có 1 giáo viên tiếng Anh, phụ trách giảng dạy cho cả hai cấp học.
Cô Hoan chia sẻ: "Để đảm bảo học sinh vẫn được học đủ số tiết theo chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo, nhà trường buộc phải bố trí giáo viên này dạy cho toàn bộ các lớp. Với cấp trung học cơ sở, việc tổ chức dạy học còn tương đối thuận lợi hơn do các lớp tập trung tại trường chính. Tuy nhiên, ở bậc tiểu học, nhà trường có thêm các điểm trường lẻ, khiến việc bố trí giảng dạy trở nên phức tạp hơn nhiều.
Nhà trường đang áp dụng hình thức để giáo viên dạy trực tiếp tại điểm trường chính, sau đó phát trực tuyến để các điểm trường khác theo dõi. Ở các điểm trường, giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn sẽ hỗ trợ mở lớp trực tuyến và hướng dẫn thêm cho học sinh”.
Dù vậy, theo nữ hiệu trưởng, đây chỉ là giải pháp tình thế trong bối cảnh thiếu giáo viên. Việc sắp xếp thời khóa biểu cho một giáo viên đảm nhiệm khối lượng công việc lớn như vậy cũng đặt ra không ít áp lực đối với ban giám hiệu.
Để một giáo viên có thể dạy được cả hai cấp học, nhà trường phải sắp xếp thời khóa biểu rất phức tạp. Chẳng hạn, các lớp trung học cơ sở học buổi sáng thì tiểu học phải chuyển sang buổi chiều. Thậm chí có những tiết của tiểu học phải chèn vào tiết 5 buổi sáng để dành thời gian buổi chiều cho giáo viên ôn tập cho học sinh lớp 9.
Như vậy, cùng lúc, một giáo viên phải đảm nhiệm ba nhiệm vụ: dạy tiếng Anh cho học sinh trung học cơ sở, dạy cho học sinh tiểu học và bồi dưỡng ôn thi cho học sinh lớp 9, chuẩn bị cho kỳ thi đầu cấp vào trung học phổ thông. Khối lượng công việc lớn khiến giáo viên gần như không có thời gian nghỉ ngơi.
Không chỉ thiếu giáo viên, việc tuyển dụng thêm nhân lực cho môn học này cũng gặp nhiều khó khăn. Theo cô Hoan, dù nhà trường nhiều lần đề xuất bổ sung giáo viên tiếng Anh, song đến nay vẫn chưa có nguồn tuyển.
“Ở khu vực vùng cao như xã Khánh Xuân rất khó thu hút giáo viên. Nhiều người có năng lực ngoại ngữ thường chọn làm việc tại các trung tâm tiếng Anh hoặc trong lĩnh vực du lịch, dịch vụ. Vì vậy, việc tìm giáo viên sẵn sàng lên công tác tại các trường vùng sâu, vùng xa gần như không dễ dàng”, cô chia sẻ.
Thực tế cho thấy, giáo viên tiếng Anh hiện đang giảng dạy tại Trường Phổ thông dân tộc bán trú Tiểu học và Trung học cơ sở Phan Thanh cũng phải di chuyển quãng đường rất xa để đến lớp. Theo cô Hoan, giáo viên này sinh sống tại thành phố Cao Bằng, mỗi lần lên trường phải di chuyển hơn 100km. Nếu đi ô tô sẽ khoảng 4 tiếng, còn đi xe máy cũng phải mất khoảng 3 tiếng rưỡi mới tới trường. Khoảng cách địa lý xa cùng điều kiện đi lại khó khăn càng khiến việc thu hút và giữ chân giáo viên trở nên thách thức hơn.
Cũng rơi vào tình trạng thiếu giáo viên tiếng Anh, hiện nay Trường Tiểu học và Trung học cơ sở Phong Nặm (xã Đình Phong, tỉnh Cao Bằng) chỉ có một giáo viên tiếng Anh duy nhất, phải đảm nhiệm giảng dạy cho cả hai cấp học.
Cô Hoàng Thị Thiềm - Phó Hiệu trưởng phụ trách nhà trường cho biết, để đảm bảo học sinh được học đủ số tiết theo chương trình, nhà trường phải sắp xếp thời khóa biểu một cách linh hoạt để giáo viên có thể giảng dạy cho toàn bộ các lớp. Tuy nhiên, việc này không chỉ gây khó khăn trong khâu tổ chức, bố trí lịch học mà còn tạo áp lực lớn đối với giáo viên khi khối lượng công việc vượt quá khả năng của một người. Giáo viên dạy tiếng Anh của trường được thanh toán tiền dạy vượt giờ theo quy định.
"Hiện nay nhà trường đang thực hiện giảng dạy theo Chương trình giáo dục phổ thông hiện hành của Bộ Giáo dục và Đào tạo, trong đó học sinh bắt đầu được học tiếng Anh từ lớp 3. Theo Đề án “Đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học giai đoạn 2025 - 2035, tầm nhìn đến năm 2045”, môn tiếng Anh sẽ dạy bắt buộc từ lớp 1. Song do thiếu giáo viên nên chưa thể thực hiện", cô Thiềm bộc bạch.
Bên cạnh vấn đề nhân lực, điều kiện cơ sở vật chất phục vụ việc dạy học ngoại ngữ cũng còn những bất cập nhất định. Theo cô Thiềm, nhà trường đã được trang bị một số thiết bị hỗ trợ giảng dạy như máy tính, máy chiếu và tài liệu học tập. Ngoài ra, trường cũng đã được đầu tư phòng học ngoại ngữ chuyên dụng với các thiết bị nghe nhìn hiện đại nhằm phục vụ việc dạy và học. Tuy nhiên, khi đưa vào sử dụng thực tế vẫn còn một số hạn chế cần tiếp tục khắc phục.
Học sinh tiếp cận tiếng Anh ở mức cơ bản, cần thêm nguồn lực hỗ trợ
Theo cô Hoàng Thị Thiềm, ngoài việc đảm bảo số tiết học theo quy định, giáo viên cũng cố gắng đổi mới phương pháp giảng dạy để tạo hứng thú cho học sinh. Trong các tiết học, giáo viên lồng ghép nhiều hoạt động như trò chơi ngôn ngữ, luyện nghe - nói, giao tiếp cơ bản, qua đó giúp học sinh chủ động hơn trong việc tiếp cận môn học. Tuy nhiên, do điều kiện của địa phương còn nhiều khó khăn, các hoạt động ngoại khóa bằng tiếng Anh như câu lạc bộ, giao lưu hay các sân chơi ngoại ngữ chưa thể tổ chức thường xuyên.
“Nhìn chung, chất lượng học tập môn tiếng Anh của học sinh đang từng bước được cải thiện. Tuy nhiên, so với mục tiêu nâng cao năng lực ngoại ngữ thì vẫn còn một khoảng cách nhất định, đặc biệt là ở các kỹ năng viết và nói”, cô Thiềm chia sẻ.
Theo cô, học sinh của trường thường gặp nhiều khó khăn trong quá trình học tiếng Anh. Một trong những nguyên nhân lớn là thiếu môi trường sử dụng ngoại ngữ ngoài lớp học, khiến việc ghi nhớ và vận dụng kiến thức còn hạn chế. Bên cạnh đó, điều kiện kinh tế của nhiều gia đình còn khó khăn nên học sinh ít có cơ hội tiếp cận với thiết bị học tập, tài liệu hoặc internet để tự học và rèn luyện thêm.
Ngoài ra, một bộ phận học sinh thường xuyên sử dụng tiếng dân tộc thiểu số trong giao tiếp hằng ngày, nên khi học thêm một ngoại ngữ mới như tiếng Anh cũng gặp trở ngại nhất định về phát âm, từ vựng và khả năng tiếp thu.
Trước định hướng đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học, nhà trường cũng đã từng bước chuẩn bị các điều kiện cần thiết nhằm nâng cao chất lượng dạy và học. Trong đó, trường chú trọng bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên, đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng phát triển năng lực học sinh, đồng thời tăng cường sử dụng công nghệ thông tin và học liệu điện tử trong giảng dạy.
Bên cạnh đó, giáo viên được khuyến khích tổ chức nhiều hoạt động học tập tích cực như trò chơi, làm việc nhóm, luyện giao tiếp đơn giản, giúp học sinh dần làm quen với việc sử dụng tiếng Anh trong thực tế. Song, cô Thiềm cho rằng để triển khai hiệu quả mục tiêu đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học tại các địa bàn miền núi như Cao Bằng, cần có thêm nhiều giải pháp đồng bộ về nguồn lực.
Theo cô, trước hết cần tăng cường đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên tiếng Anh, đồng thời bổ sung thêm giáo viên để giảm tải cho những người đang trực tiếp giảng dạy. Bên cạnh đó, cần có các chương trình hỗ trợ học sinh vùng khó khăn tiếp cận với môi trường học tập tiếng Anh đa dạng hơn, như tổ chức các hoạt động ngoại khóa, sân chơi, giao lưu hoặc các chương trình trải nghiệm sử dụng ngoại ngữ.
“Những hoạt động này sẽ góp phần tạo động lực học tập, giúp học sinh tự tin hơn khi sử dụng tiếng Anh trong giao tiếp, qua đó từng bước nâng cao chất lượng dạy và học môn học này tại các trường vùng khó khăn”, cô Thiềm chia sẻ.
Cô Mông Thị Hoan cũng có góc nhìn tương tự. Nữ hiệu trưởng Trường Phổ thông dân tộc bán trú Tiểu học và Trung học cơ sở Phan Thanh chia sẻ, bên cạnh bài toán nhân lực, việc nâng cao chất lượng học tập môn tiếng Anh của học sinh tại trường vùng cao thường gặp thách thức do đặc thù địa bàn và điều kiện học tập.
Với điều kiện hiện tại, nhà trường đánh giá khả năng tiếp thu môn tiếng Anh của học sinh chủ yếu ở mức đạt yêu cầu, tức là các em có thể tiếp cận được những kiến thức cơ bản theo chương trình. Nữ hiệu trưởng cho hay, học sinh tiểu học hiện có thể viết, nhận biết được những nội dung cơ bản của môn học. Tuy nhiên, để nói chất lượng sâu và tốt thì rất khó, bởi giáo viên không thể trực tiếp hướng dẫn đầy đủ cho tất cả các lớp, nhất là ở các điểm trường.
Tại các điểm trường lẻ, việc học tập của học sinh còn phụ thuộc nhiều vào sự hỗ trợ của giáo viên chủ nhiệm và các giáo viên bộ môn khác khi theo dõi bài giảng trực tuyến. Điều này phần nào ảnh hưởng đến hiệu quả tiếp thu kiến thức của các em.
Cô Mông Thị Hoan bày tỏ, nếu muốn thực hiện mục tiêu đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học, trước hết cần giải quyết bài toán nhân lực.
“Điều quan trọng nhất là phải có đủ giáo viên. Với quy mô hơn 700 học sinh như hiện nay, một giáo viên không thể đảm đương hết. Ít nhất nhà trường cần thêm 2 giáo viên tiếng Anh biên chế để có thể tổ chức dạy học đầy đủ cho các lớp và các điểm trường. Bên cạnh đó, đội ngũ giáo viên cũng cần đảm bảo trình độ chuyên môn và năng lực sư phạm phù hợp để đáp ứng yêu cầu giảng dạy trong giai đoạn mới.
Ngoài nhân lực, cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học cũng là yếu tố quan trọng. Việc dạy và học tiếng Anh hiện nay cần sự hỗ trợ của nhiều phương tiện công nghệ. Bởi tiếng Anh là môn học cần có hình ảnh, âm thanh, video minh họa, các đoạn hội thoại… Nếu có đầy đủ thiết bị như máy chiếu, hệ thống âm thanh hay học liệu số thì việc dạy học sẽ hiệu quả hơn rất nhiều”, cô cho biết.
Từ thực tế tại địa phương, cô Hoan cũng bày tỏ niềm tin trước sự thành lập Ban Chỉ đạo triển khai Đề án “Đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học giai đoạn 2025 - 2035, tầm nhìn đến năm 2045” của tỉnh Cao Bằng.
Theo nhà trường, khi có sự chỉ đạo thống nhất từ cấp tỉnh, những khó khăn về nhân lực, cơ sở vật chất và điều kiện dạy học tại các địa bàn vùng sâu, vùng xa sẽ được nhìn nhận đầy đủ hơn. Từ đó, các chính sách hỗ trợ, đầu tư nguồn lực và giải pháp thu hút giáo viên có thể được xây dựng sát với thực tế, giúp việc nâng cao chất lượng dạy và học tiếng Anh từng bước đạt hiệu quả, tạo cơ hội cho học sinh vùng cao tiếp cận tốt hơn với ngoại ngữ.
“Chúng tôi rất mong lãnh đạo tỉnh và ngành giáo dục tiếp tục quan tâm đến sự nghiệp giáo dục của địa phương, đặc biệt là các xã vùng đặc biệt khó khăn như Khánh Xuân. Trước hết, để thu hút giáo viên về công tác tại vùng cao, ngoài các chính sách phụ cấp hiện có, cần có thêm những cơ chế linh hoạt và phù hợp hơn với thực tế.
Hiện nay đã có nhiều chính sách về lương và phụ cấp cho giáo viên công tác tại vùng III, vùng đặc biệt khó khăn. Tuy nhiên, việc thu hút giáo viên vẫn còn hạn chế. Vì vậy, cần có những cơ chế mở hơn, thực sự phù hợp để thu hút giáo viên về với vùng cao. Khi giải quyết được bài toán nhân lực và cơ sở vật chất, các trường vùng khó khăn mới có thể từng bước nâng cao chất lượng dạy và học tiếng Anh, qua đó góp phần thực hiện hiệu quả mục tiêu đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học", cô Mông Thị Hoan khẳng định.