Nâng chuẩn công nhận đạt giáo dục THCS bắt buộc là cần thiết

15/03/2026 06:40
Ngọc Huyền

GDVN - Yêu cầu nâng tỷ lệ thanh thiếu niên hoàn thành THCS lên 90% tại xã đặc biệt khó khăn được đánh giá là cần thiết, song vẫn đặt ra nhiều thách thức.

Dự thảo Nghị định Quy định về phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 đến 6 tuổi, giáo dục bắt buộc và xóa mù chữ được Bộ Giáo dục và Đào tạo đăng tải đã đưa ra nhiều tiêu chí mới. Trong đó, đáng chú ý là yêu cầu tỷ lệ thanh thiếu niên từ 15 - 18 tuổi hoàn thành chương trình trung học cơ sở đạt ít nhất 95%, đối với các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn đạt phải ít nhất 90%.

Tỷ lệ thanh niên, thiếu niên trong độ tuổi từ 15 đến 18 đang học chương trình giáo dục phổ thông hoặc giáo dục thường xuyên cấp trung học phổ thông hoặc giáo dục nghề nghiệp đạt ít nhất 80%, đối với xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn đạt ít nhất 70%.

So với quy định trước đây, tiêu chí này đã được nâng lên đáng kể. Theo một số cán bộ quản lý giáo dục cơ sở, đây là mục tiêu cần thiết trong bối cảnh đất nước phát triển, song cũng đặt ra không ít thách thức đối với các địa phương vùng cao, vùng đặc biệt khó khăn.

Nâng tỷ lệ phổ cập là yêu cầu phù hợp với bối cảnh mới

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, ông Phạm Văn Tiếp - Phó Trưởng phòng Văn hoá - Xã hội xã Sín Chéng (tỉnh Lào Cai) cho biết, trước đây tiêu chuẩn công nhận xã đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở mức độ 1 chỉ yêu cầu tỷ lệ thanh thiếu niên 15 - 18 tuổi tốt nghiệp trung học cơ sở đạt tối thiểu 80%, còn đối với xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn là 70%. Trong bối cảnh hiện nay, khi đời sống kinh tế - xã hội đã có nhiều chuyển biến tích cực, mức yêu cầu mới 90% đối với xã đặc biệt khó khăn là hoàn toàn phù hợp.

Theo đó, ở quy định cũ, việc công nhận đạt tiêu chuẩn công nhận giáo dục trung học cơ sở bắt buộc được phân thành 3 mức độ 1 - 3, với các tiêu chí tăng dần về tỷ lệ người học và điều kiện bảo đảm thực hiện. Tuy nhiên, theo dự thảo mới, tiêu chuẩn được điều chỉnh chỉ còn 2 mức độ gồm: mức hoàn thành và mức nâng cao.

Về nội dung thay đổi này, ông Phạm Văn Tiếp chia sẻ: "Hiện nay đời sống kinh tế phát triển hơn, người dân ngày càng quan tâm đến việc học của con em. Vì vậy việc nâng tỷ lệ phổ cập giáo dục và xóa mù chữ là cần thiết, nhằm nâng cao mặt bằng dân trí và góp phần thúc đẩy sự phát triển chung của đất nước”.

anh-man-hinh-2026-03-13-luc-234108-4981.jpg
Ông Phạm Văn Tiếp - Phó Phòng Văn hoá - Xã hội, Uỷ ban nhân dân xã Sín Chéng. Ảnh: NVCC

Ông Tiếp cũng cho biết, thực tế tại xã Sín Chéng nhiều chỉ tiêu về phổ cập giáo dục đã đạt và vượt yêu cầu đề ra.

Theo số liệu thống kê đến năm học 2024 - 2025, tổng số thanh thiếu niên trong độ tuổi 15 - 18 cần phổ cập giáo dục trung học cơ sở tại xã là 1.197 người, trong đó 1.147 em đã tốt nghiệp trung học cơ sở, đạt 95,7%.

Ngoài ra, trong số những thanh thiếu niên đã tốt nghiệp trung học cơ sở, có 923 em đang tiếp tục học chương trình giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên hoặc giáo dục nghề nghiệp, chiếm 77,1%.

Như vậy, các chỉ tiêu này đều đang vượt mức quy định trong dự thảo Nghị định. Theo ông Tiếp, kết quả này có được nhờ nhiều yếu tố thuận lợi. Trước hết, công tác giáo dục của xã luôn nhận được sự quan tâm chỉ đạo sát sao của các cấp, các ngành, đồng thời có sự phối hợp tích cực của các tổ chức đoàn thể và chính quyền cơ sở.

Bên cạnh đó, quy mô mạng lưới trường lớp trên địa bàn được duy trì ổn định, phù hợp với phân bố dân cư và điều kiện địa hình. Hệ thống trường học cơ bản đáp ứng nhu cầu học tập của người dân. Cơ sở vật chất trường lớp cũng được quan tâm đầu tư, nâng cấp, đặc biệt sau khi thực hiện sáp nhập xã.

Một yếu tố quan trọng khác là đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên cơ bản đáp ứng yêu cầu chuyên môn, tâm huyết và trách nhiệm với công việc. Hiện nay, Phòng Văn hoá - Xã hội xã có 3 cán bộ phụ trách mảng giáo dục, được chuyển từ Phòng Giáo dục và Đào tạo trước đây về công tác tại địa phương. Nhờ vậy, việc chỉ đạo, hướng dẫn các hoạt động giáo dục được thực hiện đồng bộ và kịp thời hơn.

Tuy nhiên, theo ông Tiếp, dù xã Sín Chéng đang đạt tỷ lệ cao, nhưng không phải địa phương nào ở vùng cao cũng có điều kiện tương tự. Đối với nhiều xã đặc biệt khó khăn, việc đạt được tỷ lệ 90% thanh thiếu niên hoàn thành chương trình trung học cơ sở vẫn là một thách thức lớn.

Nhiều yếu tố xã hội tác động đến việc duy trì học sinh

Nhận định về các yếu tố tác động đến việc duy trì sĩ số học sinh, ông Phạm Văn Tiếp chia sẻ: "Một trong những khó khăn lớn ở vùng cao là tình trạng tảo hôn vẫn còn tồn tại. Đây là vấn đề cần phải nhìn nhận thẳng thắn. Ở một số nơi, khi các em đến độ tuổi 15, vẫn có trường hợp lập gia đình sớm, dẫn đến việc học tập bị gián đoạn. Ngoài ra, xu hướng lao động sớm cũng ảnh hưởng trực tiếp đến việc duy trì học sinh ở bậc trung học cơ sở.

Hiện nay, nhiều khu công nghiệp ở các tỉnh như Thái Nguyên, Bắc Ninh, Hải Phòng có nhu cầu tuyển dụng lao động lớn. Một số doanh nghiệp thậm chí không yêu cầu bằng tốt nghiệp trung học cơ sở, chỉ cần biết đọc, biết viết là có thể làm việc. Trong bối cảnh đó, nhiều thanh thiếu niên nhìn thấy cơ hội kiếm tiền sớm nên có xu hướng bỏ học để đi làm.

Có những em đang học lớp 8, lớp 9 nhưng thấy người lớn đi làm công ty mỗi tháng thu nhập khoảng 7 - 10 triệu đồng thì cảm thấy rất hấp dẫn. Đây là một trong những lý do khiến việc duy trì học sinh học hết cấp 2 trở nên khó khăn”.

Ở xã Sín Chéng, dân số gần 14.000 người, với 20 thôn đều thuộc diện đặc biệt khó khăn và chủ yếu là đồng bào dân tộc Mông. Trong những năm gần đây, nhiều lao động trẻ trong xã đã đi làm tại các khu công nghiệp hoặc làm việc tự do ở các tỉnh khác. Điều này cũng ảnh hưởng đến nhận thức của một bộ phận học sinh về việc học tập lâu dài.

489630113-1275830417279410-2019457997783027200-n.jpg
Các trường trung học cơ sở tại xã Sín Chéng đều nằm trên địa bàn thôn đặc biệt khó khăn. Ảnh: Trường Trung học cơ sở Sín Chéng.

Theo ông Tiếp, ở bậc mầm non và tiểu học, việc duy trì sĩ số tương đối thuận lợi. Một phần vì ở lứa tuổi nhỏ, học sinh cần được chăm sóc, quản lý nên phụ huynh thường muốn cho con đến trường. Nhiều trường tổ chức bán trú, có giáo viên chăm sóc học sinh nên càng được người dân ủng hộ.

Tuy nhiên, khi lên trung học cơ sở, các em đã lớn hơn và có thể tự lo sinh hoạt cá nhân, thậm chí trở thành lao động chính trong nhà. Vì vậy, việc duy trì sĩ số ở lớp 9 khó khăn hơn nhiều so với các bậc học dưới.

Đồng tình với quan điểm trên, thầy Hoàng Văn Thiết - Hiệu trưởng Trường Trung học cơ sở Sín Chéng (xã Sín Chéng, tỉnh Lào Cai) cũng cho biết, tại địa phương vẫn còn xuất hiện tình trạng học sinh bỏ học, dù tỷ lệ không cao. Tuy nhiên, việc duy trì sĩ số và bảo đảm học sinh hoàn thành chương trình trung học cơ sở vẫn chịu tác động bởi nhiều yếu tố xã hội.

Đầu tiên là sự quan tâm của gia đình. Nhiều phụ huynh đi làm ăn xa nên việc theo sát, quản lý việc học của con cái còn hạn chế. Khi thiếu sự giám sát thường xuyên từ gia đình, một số học sinh dễ xao nhãng việc học hoặc nghỉ học giữa chừng.

Hoàn cảnh kinh tế khó khăn cũng là nguyên nhân khiến một bộ phận học sinh có nguy cơ bỏ học. Ở một số gia đình, học sinh phải tham gia lao động sớm để phụ giúp kinh tế, từ đó ảnh hưởng đến việc học tập. Một yếu tố khác là nhận thức của phụ huynh về giáo dục chưa đồng đều. Một số gia đình chưa thực sự coi trọng việc học của con em, dẫn đến thiếu sự quan tâm, động viên trong quá trình học tập.

Ngoài ra, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và mạng xã hội cũng tác động đến tâm lý của học sinh. Ở lứa tuổi vị thành niên, các em dễ bị ảnh hưởng bởi những yếu tố bên ngoài như yêu sớm, chán nản trong học tập hoặc bị cuốn vào các hoạt động giải trí, từ đó ảnh hưởng đến việc học.

"Mặc dù vậy, nhờ sự nỗ lực của nhà trường và địa phương, tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở của trường hiện đạt khoảng 99%. Trường không phải là trường bán trú chính thức, nhưng vẫn tổ chức bán trú cho những học sinh có nhu cầu nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc học tập", thầy Thiết bày tỏ.

Cần sự phối hợp của nhiều bên để nâng cao hiệu quả phổ cập giáo dục

Thầy Hoàng Văn Thiết nhận định, việc nâng tỷ lệ đạt chuẩn phổ cập lên 90% đối với các xã đặc biệt khó khăn là cần thiết trong bối cảnh hiện nay. Khi dự thảo được ban hành, nhà trường sẽ nỗ lực hơn nữa trong công tác dạy và học, giúp xã duy trì đạt tiêu chuẩn công nhận giáo dục trung học cơ sở bắt buộc mức độ hoàn thành, tiến tới mức nâng cao.

Theo thầy Thiết, để đảm bảo sĩ số và hạn chế tình trạng học sinh bỏ học, nhà trường đã triển khai nhiều biện pháp và sẽ tiếp tục áp dụng trong thời gian tới. Trong đó, sự phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương, phụ huynh học sinh và trưởng thôn, bản được xem là yếu tố quan trọng.

Nhà trường thường xuyên tham mưu với chính quyền địa phương, đồng thời giao nhiệm vụ cụ thể cho giáo viên chủ nhiệm và các bộ phận trong trường tham gia công tác tuyên truyền, vận động học sinh đến lớp. Do đặc thù địa hình vùng cao, nhiều khi giáo viên phải đến tận nhà học sinh để vận động, tuyên truyền nhằm giúp các em tiếp tục đến trường.

Ngoài ra, vào các kỳ nghỉ dài như Tết hoặc nghỉ hè, trường đều gửi văn bản đến phụ huynh nhằm nhắc nhở việc quản lý, theo dõi con em, không để học sinh bị lôi kéo đi làm khi chưa đủ tuổi lao động, đồng thời tuyên truyền, hướng dẫn học sinh chấp hành Luật Hôn nhân và Gia đình, không tảo hôn khi vẫn còn đang là học sinh.

542760237-1402043057991478-9209729900613192862-n-8522.jpg
Thầy Hoàng Văn Thiết - Hiệu trưởng Trường Trung học cơ sở Sín Chéng. Ảnh: Website trường

Theo thầy Thiết, muốn công tác phổ cập giáo dục đạt hiệu quả bền vững, cần có sự vào cuộc đồng bộ của gia đình, nhà trường và chính quyền địa phương. Khi các bên cùng phối hợp chặt chẽ trong việc quản lý, tuyên truyền và hỗ trợ học sinh, việc duy trì sĩ số và nâng cao chất lượng giáo dục sẽ thuận lợi hơn.

Về phía chính quyền địa phương, ông Phạm Văn Tiếp chia sẻ, nếu dự thảo được ban hành, các xã phải nỗ lực nhiều để đạt được mục tiêu 90% thanh thiếu niên hoàn thành chương trình trung học cơ sở, đặc biệt cần có những giải pháp đồng bộ từ nhiều phía.

Trước hết, chính sách hỗ trợ học sinh cần tiếp tục được duy trì và hoàn thiện. Hiện nay, học sinh tại xã Sín Chéng thuộc vùng III đã được hỗ trợ chi phí học tập, góp phần giảm bớt gánh nặng cho gia đình. Tuy nhiên, theo vị phó phòng Văn hoá - Xã hội, yếu tố quan trọng hơn là đẩy mạnh công tác hướng nghiệp và phân luồng sau trung học cơ sở, giúp học sinh lựa chọn giữa học tiếp trung học phổ thông hoặc tham gia đào tạo nghề.

Việc xây dựng các mô hình trường liên cấp nội trú tại các xã biên giới cũng giúp học sinh có điều kiện học tập tốt hơn, đồng thời góp phần nâng cao tỷ lệ xóa mù chữ và phổ cập giáo dục ở các địa bàn khó khăn nhờ việc quản lý học sinh chặt chẽ và có thêm nhiều chính sách hỗ trợ.

Bên cạnh đó, dự thảo Nghị định mới cũng bổ sung cơ chế quản lý và theo dõi quá trình học tập của học sinh, thay vì chỉ ghi nhận kết quả phổ cập như trước. Các địa phương sẽ thực hiện khảo sát, lập hồ sơ và cập nhật dữ liệu học sinh trong độ tuổi phổ cập, kể cả những em đang học nghề. Việc theo dõi thường xuyên giúp phát hiện sớm nguy cơ bỏ học để có biện pháp hỗ trợ kịp thời.

"Muốn nâng cao hiệu quả phổ cập giáo dục, cần tăng cường sự lãnh đạo của các cấp, đầu tư cơ sở vật chất và nâng cao hiệu quả hoạt động của Ban Chỉ đạo phổ cập giáo dục, đồng thời thường xuyên kiểm tra tỷ lệ chuyên cần của học sinh và chất lượng các lớp xóa mù chữ.

Cùng với đó, sự phối hợp giữa chính quyền, nhà trường, trưởng thôn và phụ huynh sẽ được tăng cường nhằm kịp thời nắm bắt tình hình học sinh và vận động các em tiếp tục đến trường. Khi gia đình, nhà trường và chính quyền cùng chung tay, công tác phổ cập giáo dục và xóa mù chữ sẽ đạt hiệu quả cao hơn, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở các địa phương vùng cao", ông Phạm Văn Tiếp nhấn mạnh.

Ngọc Huyền