CSGDĐH cần giữ vai trò tiên phong trong việc dẫn dắt, định hướng nghiên cứu khoa học cơ bản

19/03/2026 08:45
Thanh Thuý

GDVN -Khi các sản phẩm khoa học được ứng dụng rộng rãi trong đời sống và sản xuất, hoạt động NCKH mới thực sự phát huy giá trị.

Các ngành khoa học cơ bản được coi như trụ cột xương sống của xã hội hiện đại, đặc biệt là trong bối cảnh cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ và muốn đẩy mạnh phát triển công nghệ cao càng phải coi trọng và đầu tư cho các ngành khoa học cơ bản.

Tại cuộc làm việc của Thủ tướng Phạm Minh Chính với Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam vừa qua, lãnh đạo Bộ Khoa học và Công nghệ nhấn mạnh, Bộ sẽ tiếp tục hoàn thiện cơ chế tài trợ nghiên cứu theo hướng ổn định hơn cho khoa học cơ bản, đồng thời mở ra các cơ chế linh hoạt để kết nối nghiên cứu với ứng dụng.

Theo các chuyên gia, để thực sự kết nối nghiên cứu với ứng dụng, cần có cơ chế chính sách linh hoạt về các vấn đề tài chính, xây dựng nhóm nghiên cứu mạnh và tăng cường hợp tác với doanh nghiệp để tạo ra sản phẩm có khả năng ứng dụng cao.

Đầu tư vào khoa học cơ bản là chiến lược bền vững, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, theo chuyên gia giáo dục, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thiện Tống chia sẻ, trong bối cảnh khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được xác định là một trong những đột phá chiến lược của quốc gia, khoa học cơ bản ngày càng khẳng định vai trò là nền tảng tri thức cho sự phát triển. Đây là lĩnh vực đặt nền móng cho mọi tiến bộ của khoa học và công nghệ, đồng thời giữ vị trí then chốt trong quá trình phát triển bền vững của mỗi quốc gia.

Bên cạnh đó, khoa học cơ bản còn là cơ sở để hình thành và phát triển các công nghệ mới. Nghiên cứu cơ bản thường là bước khởi đầu trong chuỗi hoạt động nghiên cứu khoa học, từ quá trình khám phá, hình thành tri thức đến nghiên cứu ứng dụng và triển khai vào sản xuất. Tuy nhiên, đặc thù của lĩnh vực này là đòi hỏi nguồn lực đầu tư lớn và thời gian dài để tạo ra kết quả.

Chính vì vậy, đầu tư cho khoa học cơ bản cần được nhìn nhận như một khoản đầu tư mang tính chiến lược, nhằm xây dựng nền móng tri thức và tăng cường tiềm lực khoa học – công nghệ của quốc gia. Những thành tựu của nghiên cứu cơ bản không chỉ mở đường cho các nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ, mà còn tạo động lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển bền vững của đất nước.

Cũng theo thầy Tống, kết quả nghiên cứu của khoa học cơ bản là tiền đề cho sự phát triển công nghệ và nghiên cứu ứng dụng. Tuy nhiên, thực tế việc kết nối giữa nghiên cứu và thực tiễn vẫn còn nhiều thách thức.

Trước hết, ngành khoa học cơ bản không trực tiếp tạo ra những sản phẩm hay dịch vụ dễ ứng dụng ngay lập tức nhưng lại là nền tảng cho tất cả các tiến bộ khoa học, công nghệ về sau. Vì vậy kết quả nghiên cứu không phải lúc nào cũng có thể chuyển hóa ngay thành sản phẩm ứng dụng. Điều này vô tình tạo ra tâm lý các ngành khoa học cơ bản nghiên cứu còn chưa thực sự gắn kết với thực tiễn.

Ngoài ra, việc ứng dụng, chuyển giao đề tài nghiên cứu khoa học còn tồn tại rào cản như: nhà khoa học chưa liên kết chặt chẽ, phát huy hiệu quả thực chất được với doanh nghiệp và nhà đầu tư; sản phẩm nghiên cứu khoa học chưa được ứng dụng và chuyển giao công nghệ rộng rãi ra ngoài xã hội. Điều này dẫn đến nhiều sản phẩm nghiên cứu khoa học vẫn chưa được ứng dụng rộng rãi hay chuyển giao công nghệ ra xã hội, mặc dù có giá trị khoa học cao.

“Nghị quyết số 57-NQ/TW xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang là yếu tố quyết định phát triển của quốc gia. Để có những đột phát về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo thì trước tiên cần phát triển khoa học cơ bản để tạo nền tảng vững chắc”, thầy Tống chia sẻ.

nghien-cuu-sinh-vnu-1.jpg
Ảnh minh hoạ. Website Đại học Quốc gia Hà Nội.

Cùng bàn về vấn đề này, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Lân Hùng Sơn - Giảng viên cao cấp, Chủ tịch Hội đồng khoa học và đào tạo khoa Sinh học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Phó Chủ tịch Hội Sinh thái học Việt Nam cho biết, việc đẩy mạnh gắn kết nghiên cứu khoa học cơ bản với thực tiễn sản xuất và đời sống luôn là một định hướng quan trọng, thường xuyên được nhấn mạnh trong chiến lược phát triển khoa học và công nghệ của các cơ sở giáo dục đại học và viện nghiên cứu.

Hiện, chúng ta có đội ngũ các nhà khoa học được đào tạo bài bản ở các nước tiên tiến, có năng lực tiếp cận và tổng quan sâu sắc đối với những vấn đề lý thuyết còn bỏ ngỏ cả trong nước và trên thế giới. Nhiều kết quả nghiên cứu đã được công bố trên các tạp chí khoa học quốc tế uy tín, góp phần khẳng định năng lực nghiên cứu của đội ngũ trí thức trong nước. Đồng thời, sự gia tăng về số lượng và chất lượng các công bố quốc tế không chỉ nâng cao vị thế khoa học của Việt Nam, mà còn góp phần cải thiện đáng kể thứ hạng của các trường đại học trong các bảng xếp hạng uy tín ở khu vực và trên thế giới.

Tuy nhiên, không ít nghiên cứu vẫn bị gián đoạn hoặc chỉ dừng lại ở quy mô thử nghiệm trong phòng thí nghiệm. Để tiếp tục phát triển và tiến tới ứng dụng thực tiễn, các nhà khoa học cần có cơ chế hỗ trợ vững chắc hơn, đặc biệt là sự bảo đảm về nguồn kinh phí đầu tư mang tính dài hạn. Đồng thời, cần thúc đẩy sự tham gia và đồng hành của doanh nghiệp nhằm chuyển hóa các kết quả nghiên cứu từ phòng thí nghiệm thành sản phẩm, công nghệ cụ thể phục vụ đời sống và sản xuất.

Ở một khía cạnh khác, các nhà khoa học và giảng viên đại học cũng cần chủ động gắn mình với thực tiễn sản xuất, qua đó kịp thời nắm bắt và phát hiện những vấn đề đặt ra từ thực tiễn. Đây sẽ là cơ sở quan trọng để hình thành các hướng nghiên cứu bài bản, phát triển từ nền tảng khoa học cơ bản đến các công nghệ tiên tiến, trong đó nhà khoa học từng bước làm chủ công nghệ lõi.

Việc gia tăng số lượng bằng độc quyền sáng chế và các đăng ký sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực khoa học, công nghệ của các trường đại học là một tín hiệu tích cực, phản ánh sự nâng cao về năng lực nghiên cứu, đổi mới sáng tạo cũng như vị thế khoa học và công nghệ của các cơ sở đào tạo trong bối cảnh hội nhập.

Cũng theo thầy Sơn, trong thời gian qua, các trường đại học gặp không ít khó khăn trong việc thu hút người học vào các ngành khoa học cơ bản. Nguyên nhân đến từ nhiều phía, trong đó đáng chú ý là lĩnh vực này chưa được đầu tư tương xứng và thiếu tính ổn định lâu dài. Cơ chế tài trợ cho nghiên cứu cơ bản cũng như điều kiện cơ sở vật chất phục vụ thực nghiệm còn nhiều bất cập, khiến các nhà khoa học khó có thể theo đuổi đến cùng những mục tiêu nghiên cứu vốn đòi hỏi thời gian dài và tính liên tục cao.

Bên cạnh đó, các vấn đề từ thực tiễn sản xuất và đời sống chưa được doanh nghiệp chủ động đặt hàng hoặc chuyển hóa thành bài toán nghiên cứu cho các trường đại học và viện nghiên cứu. Điều này dẫn đến sự thiếu gắn kết giữa hoạt động nghiên cứu, đào tạo nhân lực trong lĩnh vực khoa học cơ bản với quá trình chuyển giao kết quả, phát triển sản phẩm và ứng dụng vào thực tiễn.

Xác định đúng “đích đến” của mỗi đề tài để các kết quả không nằm im trên giấy

Theo Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Tất Dong – Nguyên Phó Chủ tịch Hội Khuyến học Việt Nam, việc Bộ Khoa học và Công nghệ tiếp tục hoàn thiện cơ chế tài trợ nghiên cứu theo hướng ổn định hơn cho khoa học cơ bản, đồng thời mở ra các cơ chế linh hoạt để kết nối giữa nghiên cứu và ứng dụng là bước đi cần thiết trong giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên, để các kết quả nghiên cứu có thể đi vào thực tiễn, cần lựa chọn lộ trình và mô hình nghiên cứu để phát triển phù hợp.

Theo đó, các trường đại học và viện nghiên cứu cần tập trung xây dựng các nhóm nghiên cứu mạnh, tăng cường đầu tư cho hoạt động đổi mới sáng tạo, đồng thời mở rộng hợp tác với doanh nghiệp để định hướng nghiên cứu gắn với nhu cầu thực tiễn.

Bên cạnh nỗ lực từ phía các cơ sở nghiên cứu, Nhà nước cũng cần tiếp tục hoàn thiện chính sách hỗ trợ và xây dựng hành lang pháp lý rõ ràng, minh bạch, tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp tham gia đầu tư, đặt hàng nghiên cứu tại các trường đại học và viện nghiên cứu. Khi cơ chế chính sách được thiết kế theo hướng khuyến khích hợp tác, mối liên kết giữa cơ sở đào tạo, nhà khoa học và doanh nghiệp sẽ ngày càng chặt chẽ hơn trong các hoạt động nghiên cứu, phát triển và chuyển giao công nghệ.

Đặc biệt, sự hợp tác này không nên chỉ dừng lại ở việc thực hiện các đề tài nghiên cứu chung, mà cần hướng tới hình thành chuỗi giá trị khép kín, từ khâu hình thành ý tưởng, nghiên cứu – thử nghiệm, đến thương mại hóa và chuyển giao kết quả. Khi các sản phẩm khoa học được ứng dụng rộng rãi trong đời sống và sản xuất, hoạt động nghiên cứu mới thực sự phát huy giá trị và đóng góp thiết thực cho sự phát triển kinh tế - xã hội.

Ngoài ra, các trường đại học cũng cần chủ động thành lập các trung tâm về ươm tạo doanh nghiệp, chuyển giao công nghệ, đổi mới sáng tạo cũng như trang bị các công cụ hỗ trợ như định giá tài sản trí tuệ, tư vấn sở hữu trí tuệ và kết nối thị trường cho các kết quả nghiên cứu.

Cùng bàn về vấn đề này, theo thầy Sơn, Quyết định số 1131/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Ban hành Danh mục công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược. Trên cơ sở đó, các trường đại học và viện nghiên cứu đang tích cực xây dựng, củng cố các nhóm nghiên cứu mạnh nhằm triển khai các hướng công nghệ chiến lược cấp quốc gia.

Đội ngũ cán bộ khoa học trong các trường đại học hiện nay có quy mô lớn, phân bố rộng trên nhiều lĩnh vực như khoa học tự nhiên, khoa học sự sống, khoa học xã hội và nhân văn, khoa học giáo dục, toán học… Việc tái cấu trúc mô hình tổ chức các trường đại học theo hướng quy mô lớn, đa lĩnh vực sẽ tạo điều kiện thuận lợi để hình thành và phát triển các nhóm nghiên cứu liên ngành, xuyên ngành, qua đó giải quyết những vấn đề có tính hệ thống và quy mô lớn trong thực tiễn.

Số lượng sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh trong lĩnh vực khoa học cơ bản có thể không cần quá đông, nhưng cần bảo đảm chất lượng tinh hoa, là những cá nhân xuất sắc với năng lực tư duy vượt trội. Vì vậy, để thu hút và giữ chân cả giảng viên và người học yên tâm gắn bó với lĩnh vực này, cần thiết phải có các chính sách đầu tư ưu tiên, bao gồm học bổng, chế độ đãi ngộ, mức đầu tư cho phòng thí nghiệm cũng như cơ chế tài chính cho nghiên cứu theo hướng công khai, minh bạch.

Đặc biệt, các trường đại học cần giữ vai trò tiên phong trong việc dẫn dắt, định hướng nghiên cứu khoa học nền tảng ở các lĩnh vực cốt lõi như toán học, vật lí, hóa học, sinh học, khoa học Trái đất. Để đất nước có thể phát triển nhanh và bền vững, việc chú trọng đầu tư cho khoa học cơ bản là yêu cầu tất yếu, trong đó đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao giữ vai trò then chốt.

Khi các điểm nghẽn cản trở sự phát triển của khoa học cơ bản trong các trường đại học được tháo gỡ, sẽ tạo ra động lực cho một sự chuyển mình mạnh mẽ và sâu sắc. Qua đó, các cơ sở giáo dục đại học không chỉ khẳng định rõ nét hơn vị thế của mình, mà còn phát huy đầy đủ trách nhiệm trong việc tạo ra những đột phá, góp phần thúc đẩy sự phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

dsc1002.jpg
Ảnh minh họa: Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế

Theo Thầy Tống, để nâng cao hiệu quả đầu tư cho khoa học cơ bản, hợp tác giữa Nhà nước, trường đại học và doanh nghiệp cần được coi là “mắt xích sống còn” trong phát triển nghiên cứu và chuyển giao công nghệ. Trong đó, doanh nghiệp đóng vai trò đặt hàng và cung cấp các bài toán thực tiễn, trường đại học nghiên cứu và phát triển giải pháp, còn Nhà nước đảm nhiệm vai trò hỗ trợ, điều phối và đồng tài trợ kinh phí.

Để đảm bảo kết quả nghiên cứu không chỉ dừng lại trên giấy hay ở giai đoạn mô hình, thử nghiệm, các trường đại học và viện nghiên cứu cần được tạo điều kiện xây dựng nhóm nghiên cứu và chương trình nghiên cứu gắn với nhu cầu thực tiễn thị trường.

Đồng thời, việc xác định một số lĩnh vực nghiên cứu trọng điểm, dựa trên thế mạnh sẵn có và tham khảo kinh nghiệm quốc tế là cần thiết. Việc tập trung vào các hướng nghiên cứu mũi nhọn sẽ giúp hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh, nâng cao năng lực cạnh tranh khoa học và tạo dấu ấn riêng cho từng cơ sở nghiên cứu.

Bên cạnh đó, các cơ sở nghiên cứu nên xây dựng mô hình liên kết quốc tế, tạo cơ hội trao đổi nhà khoa học giữa các quốc gia, từ đó lan tỏa tri thức, hình thành các mạng lưới nghiên cứu mạnh. Đồng thời, việc xây dựng mạng lưới cựu nghiên cứu sinh và cựu sinh viên quốc tế cũng là nguồn lực quan trọng để thúc đẩy hợp tác nghiên cứu, chuyển giao tri thức và phát triển các dự án khoa học có tính ứng dụng cao.

Thanh Thuý