Trong bối cảnh nhiều lĩnh vực “hot” theo xu thế lên ngôi, những ngành mang tính nền tảng như Triết học, Tôn giáo học lại ít được nhắc đến vì nhiều lý do, dù vẫn giữ vai trò quan trọng trong việc lý giải đời sống xã hội và tinh thần của con người.
Trên thực tế, với tên gọi khá đặc thù, đến nay vẫn còn không ít người chưa hiểu đúng về ngành Tôn giáo học, cho rằng lĩnh vực này chỉ gắn với các công việc liên quan trực tiếp đến tôn giáo, mà chưa nhìn nhận đầy đủ về nội dung đào tạo cũng như cơ hội nghề nghiệp đa dạng mà ngành mang lại.
Đào tạo chuyên gia tiếp cận tôn giáo dưới góc nhìn khoa học, khách quan
Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Phó giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Trường Giang - Trưởng khoa Nhân học và Tôn giáo học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội (USSH) cho biết: Tôn giáo học là ngành khoa học xã hội và nhân văn, nghiên cứu tôn giáo như một hình thái ý thức xã hội, hiện tượng văn hóa - xã hội và nhu cầu tinh thần của con người, trên cơ sở các phương pháp khoa học, khách quan, hiện đại.
Vai trò của ngành này ngày càng rõ nét khi tôn giáo có ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống toàn cầu. Dẫn số liệu của Trung tâm Nghiên cứu Pew (2020), hiện có hơn 80% dân số thế giới theo một tôn giáo, và yếu tố tôn giáo hiện diện trong nhiều vấn đề lớn như xung đột Trung Đông, chủ nghĩa cực đoan, thách thức hội nhập ở châu Âu hay căng thẳng tôn giáo tại một số quốc gia.
Từ thực tiễn đó, nhiều tổ chức quốc tế như Liên Hợp Quốc, Liên minh châu Âu và các quốc gia phát triển đều chú trọng xây dựng đội ngũ chuyên gia tôn giáo học nhằm phục vụ hoạch định chính sách, đối thoại liên tôn giáo, giải quyết xung đột và thúc đẩy hòa bình.
Theo đuổi ngành Tôn giáo học, sinh viên được trang bị hệ thống kiến thức và phương pháp để có khả năng phân tích, nghiên cứu, giảng dạy về tôn giáo. Đồng thời có thể tham gia tư vấn, hỗ trợ các dự án liên quan đến đời sống tôn giáo trong cộng đồng và xã hội.
Để tránh nhầm lẫn với việc “học về tôn giáo”, theo thầy Nguyễn Trường Giang, điểm cốt lõi của Tôn giáo học là tiếp cận tôn giáo một cách khoa học, khách quan và hệ thống, nhằm làm rõ bản chất, chức năng, vai trò cũng như những ảnh hưởng của tôn giáo đối với đời sống con người và các dân tộc. Điều này khác với việc học theo hướng giáo lý, tu tập - tức góc nhìn từ bên trong của người tín đồ, thiên về trải nghiệm và thực hành tôn giáo.
“Tôn giáo học mang tính liên ngành, tiếp cận đa chiều, kết hợp cả góc nhìn bên trong và bên ngoài tôn giáo, đồng thời so sánh, phân tích các hiện tượng tôn giáo trong mối quan hệ với văn hóa, xã hội và chính sách, nhưng không nhằm mục đích truyền bá hay phản đối bất kỳ tôn giáo nào”, Phó giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Trường Giang nhấn mạnh.
Tại Việt Nam, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội là đơn vị tiên phong đào tạo ngành Tôn giáo học. Sau gần 40 năm (1990–2026), chương trình đào tạo liên tục được điều chỉnh, cập nhật theo tiêu chuẩn kiểm định chất lượng giáo dục đại học của Bộ Giáo dục và Đào tạo, từng bước khẳng định chất lượng ở mức chuẩn quốc gia và hướng tới chuẩn quốc tế.
Theo Phó giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Trường Giang, chương trình được thiết kế với các khối kiến thức gồm kiến thức chung khối Khoa học xã hội và Nhân văn, kiến thức liên ngành, kiến thức cơ sở ngành và kiến thức chuyên ngành. Trong đó, khối kiến thức cơ sở và chuyên ngành tập trung vào ba định hướng chính là lý luận và phương pháp nghiên cứu tôn giáo, lịch sử và hiện trạng các tôn giáo, tín ngưỡng trên thế giới và tại Việt Nam, cùng các vấn đề thực tiễn về đời sống tôn giáo, chính sách quản lý nhà nước và vai trò của tôn giáo trong xã hội.
Qua đó, ngành Tôn giáo học hướng tới đào tạo đội ngũ chuyên gia, nhà nghiên cứu có năng lực tham gia giải quyết các vấn đề thực tiễn liên quan đến đời sống tôn giáo ở Việt Nam và trên thế giới.
Trước những băn khoăn về đầu ra của cử nhân ngành Tôn giáo học, Phó giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Trường Giang cho biết, hiện nay nhu cầu nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực nghiên cứu tôn giáo rất lớn, kéo theo nhiều cơ hội nghề nghiệp đa dạng.
Cụ thể, sau khi tốt nghiệp, sinh viên có thể làm việc tại các cơ quan nhà nước với vai trò chuyên viên, nghiên cứu viên, giảng viên hoặc cán bộ quản lý nhà nước về tôn giáo tại Bộ Dân tộc và Tôn giáo, các ban dân tộc - tôn giáo từ Trung ương đến địa phương, Bộ Ngoại giao, cũng như trong lĩnh vực văn hóa - thể thao và du lịch, tham gia công tác bảo tồn di sản tín ngưỡng, tôn giáo hoặc tại Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp.
Bên cạnh đó, người học có thể trở thành giảng viên, nghiên cứu viên tại các viện nghiên cứu về tôn giáo, văn hóa, xã hội, cũng như công tác tại các trường đại học trong và ngoài nước.
Ngoài khu vực công lập, cơ hội nghề nghiệp còn mở rộng tại các tổ chức quốc tế và tổ chức phi chính phủ liên quan đến lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo như UNESCO, UNDP. Cử nhân Tôn giáo học có thể tham gia tư vấn cho các dự án, doanh nghiệp đa quốc gia về văn hóa - tôn giáo, cũng như làm việc trong các lĩnh vực báo chí, truyền thông, du lịch văn hóa tâm linh và các dự án phát triển cộng đồng.
Sinh viên được trải nghiệm thực tế ngay từ năm nhất
Trong bối cảnh xã hội ngày càng đa dạng về văn hóa, tín ngưỡng và tôn giáo, vai trò của ngành Tôn giáo học trong quản lý xã hội, nghiên cứu văn hóa và hoạch định chính sách ngày càng được khẳng định rõ nét. Không chỉ giúp lý giải các hiện tượng tôn giáo dưới góc nhìn khoa học, ngành học này còn góp phần quan trọng vào việc xây dựng chính sách phù hợp, thúc đẩy sự hài hòa và ổn định trong đời sống xã hội.
Theo Tiến sĩ Vũ Văn Chung - Giảng viên Khoa Nhân học và Tôn giáo học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, nghiên cứu của Pew Research Center (2025) cho thấy, đến năm 2020, thế giới có khoảng 2,3 tỷ tín đồ Kitô giáo, 2 tỷ tín đồ Hồi giáo, 1,2 tỷ tín đồ Ấn Độ giáo và 324 triệu Phật tử. Tại Việt Nam, quốc gia được xếp vào nhóm có mức độ đa dạng tôn giáo rất cao, hiện đã công nhận 17 tôn giáo hoạt động hợp pháp, cùng hệ thống tín ngưỡng dân gian phong phú.
Trong bối cảnh đó, vai trò của ngành Tôn giáo học được thể hiện qua ba trụ cột chính. Thứ nhất, đào tạo đội ngũ chuyên gia, nhà nghiên cứu, giảng viên và cán bộ quản lý có khả năng hiểu sâu về tôn giáo, phục vụ công tác quản lý, duy trì hòa hợp tôn giáo, phòng ngừa các hiện tượng lợi dụng tín ngưỡng, đồng thời xử lý các “hiện tượng tôn giáo mới” và thúc đẩy đối thoại liên tôn giáo.
Thứ hai, góp phần nghiên cứu văn hóa và bảo tồn bản sắc dân tộc, khi tín ngưỡng, tôn giáo là một thành tố quan trọng của văn hóa Việt Nam. Vai trò này được thể hiện qua các hoạt động nghiên cứu, tư vấn chính sách và triển khai các dự án bảo tồn di sản văn hóa tín ngưỡng, tôn giáo, đặc biệt tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Thứ ba, tham gia phát triển chính sách và thúc đẩy hội nhập quốc tế, thông qua việc tư vấn xây dựng chính sách tôn giáo, tham gia đối thoại quốc tế về tự do tín ngưỡng, cũng như hỗ trợ các tổ chức, doanh nghiệp trong việc hiểu biết văn hóa, tôn giáo tại Việt Nam, góp phần hạn chế xung đột và tăng cường giao lưu, hợp tác.
Trước thực tế đó, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội hiện đào tạo ngành Tôn giáo học theo định hướng ứng dụng liên ngành, tiếp cận các lý thuyết, phương pháp hiện đại gắn với yêu cầu thực tiễn. Chương trình học giúp sinh viên hiểu sâu về đời sống tôn giáo ở Việt Nam và trên thế giới thông qua các học phần như Tôn giáo học đại cương; Tín ngưỡng Việt Nam; Tôn giáo và xã hội đương đại; Phật giáo, Công giáo, Hồi giáo, Tin Lành tại Việt Nam; các tôn giáo nội sinh và lễ hội tín ngưỡng…
Trong quá trình học, sinh viên có nhiều cơ hội tham gia khảo sát thực tế, nghiên cứu tại các cơ sở tôn giáo và cộng đồng tín ngưỡng ngay từ những năm đầu. Các hoạt động điền dã, thực tập được tổ chức tại nhiều địa phương, từ các không gian lễ hội như Đền Trần, Đền Hùng, Chùa Hương, Yên Tử, đến các cơ sở tôn giáo như chùa, nhà thờ, thánh đường, thánh thất… cũng như tại các cộng đồng dân tộc thiểu số ở Lâm Đồng, Huế, Hà Giang (cũ), Lào Cai…
Bên cạnh đó, sinh viên còn có cơ hội thực tập tại các cơ quan quản lý nhà nước và tổ chức nghiên cứu về tín ngưỡng, tôn giáo như Ban Tôn giáo Chính phủ, Sở Nội vụ, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp, các viện nghiên cứu chuyên ngành.
“Những trải nghiệm này giúp sinh viên gắn kết giữa lý thuyết và thực tiễn, đồng thời rèn luyện các kỹ năng cốt lõi như quan sát, phỏng vấn, ghi chép hiện trường, phân tích và viết báo cáo nghiên cứu. Qua đó, người học không chỉ nâng cao năng lực chuyên môn mà còn hình thành tư duy tôn trọng sự khác biệt, thích ứng với môi trường đa dạng văn hóa - tôn giáo, cũng như phát triển khả năng xử lý các tình huống thực tiễn trong nghiên cứu và công việc sau này”, thầy Chung cho hay.
Để học tốt và theo đuổi ngành Tôn giáo học lâu dài, theo Tiến sĩ Vũ Văn Chung, sinh viên cần hội tụ một số tố chất và năng lực cốt lõi. Trước hết là năng lực nghiên cứu độc lập, tư duy mở và khách quan, biết nhìn nhận vấn đề từ nhiều góc độ, tách biệt niềm tin cá nhân với phân tích khoa học, tránh định kiến khi tiếp cận các vấn đề tôn giáo.
Bên cạnh đó, người học cần có sự tôn trọng và đồng cảm, biết thấu hiểu niềm tin của người có tín ngưỡng, “đặt mình vào vị trí người trong cuộc”, đồng thời thể hiện sự tinh tế trong giao tiếp, ứng xử phù hợp với từng tôn giáo, văn hóa.
Sự kiên nhẫn và tỉ mỉ cũng là yêu cầu quan trọng, giúp sinh viên có thể theo dõi, quan sát các nghi lễ, ghi chép chi tiết và kiên trì với quá trình nghiên cứu dài hạn, đặc biệt trong các chuyến điền dã tại vùng sâu, vùng xa.
Ngoài ra, sinh viên cần trang bị các kỹ năng như đọc - viết, giao tiếp, phỏng vấn, tư duy phản biện, phân tích và nghiên cứu thực địa. Đồng thời có sự quan tâm đến các vấn đề văn hóa, con người, xã hội và tín ngưỡng. Khả năng lắng nghe, tự đánh giá, cùng sự nhạy bén và linh hoạt trong tiếp cận vấn đề cũng là những yếu tố quan trọng giúp người học phát triển trong lĩnh vực này.
Trong bối cảnh cạnh tranh tuyển sinh ngày càng gia tăng, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội đã triển khai nhiều chính sách và hoạt động nhằm thu hút thí sinh quan tâm đến ngành Tôn giáo học, đồng thời tạo điều kiện để sinh viên phát triển năng lực nghiên cứu và định hướng nghề nghiệp.
Cụ thể, về hỗ trợ tài chính, sinh viên có cơ hội tiếp cận đa dạng các loại học bổng. Nổi bật là học bổng thu hút tài năng cho khối ngành khoa học cơ bản do Đại học Quốc gia Hà Nội triển khai từ năm học 2022-2023, với gói hỗ trợ toàn diện gồm miễn học phí, ký túc xá, trợ cấp sinh hoạt phí và cơ hội tham gia nghiên cứu khoa học, tổng giá trị lên tới 100-120 triệu đồng cho toàn khóa.
Bên cạnh đó là các học bổng ngoài ngân sách từ nhiều tổ chức, doanh nghiệp trong và ngoài nước, với mức hỗ trợ trung bình 5-20 triệu đồng/năm, giúp khoảng 60-70% sinh viên được hưởng ít nhất một hình thức hỗ trợ.
Về phát triển năng lực, sinh viên được tham gia chương trình ươm tạo nhà khoa học, có cơ hội làm việc cùng các nhà nghiên cứu, tham gia đề tài khoa học các cấp và được ưu tiên học lên bậc cao hơn. Các hội nghị khoa học sinh viên được tổ chức thường niên cũng tạo điều kiện để người học công bố kết quả nghiên cứu và nhận giải thưởng.
“Ngoài ra, chương trình đào tạo còn mở rộng hợp tác quốc tế, mang đến cơ hội học tập, trao đổi ngắn hạn tại nhiều quốc gia như Hàn Quốc, Nhật Bản, Pháp, Đức, Mỹ, Canada, Trung Quốc, Ấn Độ, cũng như tiếp cận các học bổng sau đại học và hội thảo quốc tế.
Nhà trường cũng chú trọng hỗ trợ phát triển nghề nghiệp thông qua các chương trình thực tập có hướng dẫn tại cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức quốc tế, cùng các khóa đào tạo kỹ năng và hoạt động kết nối việc làm, giúp sinh viên sớm định hình con đường nghề nghiệp phù hợp”, thầy Chung thông tin.
Chia sẻ với phóng viên, em Nguyễn Thanh Thiện Tú - sinh viên K68 ngành Tôn giáo học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội cho biết: Trước khi theo học, em từng nghĩ đây là ngành mang tính học thuật, khô khan. Tuy nhiên, sau một thời gian học tập, em nhận ra ngành học rất mới mẻ và thú vị, không chỉ nghiên cứu về tôn giáo, tín ngưỡng mà còn giúp hiểu sâu hơn về con người, xã hội, văn hóa và lịch sử.
Nhận xét về chất lượng đào tạo của nhà trường, Tú cho biết giảng viên của Khoa Nhân học và Tôn giáo học đều là những chuyên gia có chuyên môn sâu, đồng thời rất gần gũi, sẵn sàng hỗ trợ sinh viên. Chưa kể phương pháp giảng dạy của thầy cô cũng rất linh hoạt, kết hợp giữa lý thuyết và thảo luận, giúp sinh viên chủ động tiếp cận vấn đề và bày tỏ quan điểm cá nhân.
Bên cạnh hoạt động đào tạo, Khoa thường xuyên tổ chức các tọa đàm với nhà nghiên cứu quốc tế và đại diện các tôn giáo, tạo môi trường trao đổi cởi mở, đa chiều. Không khí học tập vì thế khá thoải mái, khuyến khích sinh viên đặt câu hỏi, phản biện và phát triển tư duy độc lập. Sinh viên cũng được tạo điều kiện tham gia nghiên cứu khoa học từ sớm, điền dã thực tế tại các cơ sở thờ tự hoặc vùng đồng bào dân tộc để mở rộng hiểu biết và gắn lý thuyết với thực tiễn.
"Ngành Tôn giáo học đã giúp em định hình rõ hơn định hướng nghề nghiệp, đồng thời trang bị nền tảng cần thiết để em có thể thích ứng với môi trường làm việc đa dạng trong bối cảnh hiện nay. Do đó, em mong muốn sau khi tốt nghiệp sẽ có cơ hội làm việc tại các tổ chức phi chính phủ hoặc cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực tôn giáo, văn hóa, góp phần thúc đẩy sự hiểu biết, tôn trọng sự đa dạng tín ngưỡng và đóng góp vào sự phát triển bền vững của xã hội", Tú chia sẻ.