Bối cảnh tự chủ, cần mạnh dạn bãi bỏ cơ chế “ngành thí điểm”

20/03/2026 06:25
Hướng Sáng

GDVN -Cải cách Danh mục ngành đào tạo vì thế không chỉ là điều chỉnh kĩ thuật quản lí, mà là bước chuyển quan trọng trong tư duy điều hành giáo dục đại học.

Giáo dục đại học đang đứng trước một bước ngoặt lớn của thời đại tri thức và chuyển đổi số. Khi công nghệ làm thay đổi cấu trúc nghề nghiệp, khi thị trường lao động đòi hỏi những năng lực mới liên tục xuất hiện, khi tri thức không còn phát triển theo những ranh giới cứng giữa các lĩnh vực, thì mô hình quản lí đào tạo theo ngành hẹp bắt đầu bộc lộ những giới hạn khó tránh khỏi.

Trong bối cảnh đó, việc Bộ Giáo dục và Đào tạo đang tổ chức rà soát, đánh giá Danh mục ngành đào tạo ở Thông tư 09/2022/TT-BGDĐT là một động thái cần thiết và kịp thời. Đây không chỉ là hoạt động kĩ thuật nhằm cập nhật hệ thống mã ngành, mà còn là cơ hội để nhìn lại tư duy quản lí giáo dục đại học trong một giai đoạn phát triển mới.

Vấn đề đặt ra không đơn thuần là “thêm ngành gì” hay “bỏ ngành nào”, mà sâu xa hơn là: chúng ta đang quản lí giáo dục đại học bằng tư duy của quá khứ hay đang kiến tạo không gian cho tương lai?

dfb56381e72769793036.jpg
Ảnh minh họa: Minh Chi

Khi tri thức phát triển theo hướng tích hợp

Thực tiễn phát triển khoa học những thập niên gần đây cho thấy: các phát minh quan trọng, các ngành nghề mới và các lĩnh vực đổi mới sáng tạo hầu hết đều hình thành từ sự giao thoa tri thức.

Trí tuệ nhân tạo không chỉ là câu chuyện của công nghệ thông tin mà còn liên quan đến toán học, dữ liệu lớn, khoa học nhận thức và nhiều lĩnh vực ứng dụng. Kinh tế số là sự kết hợp của công nghệ, quản trị, tài chính và truyền thông. Giáo dục thông minh đòi hỏi sự hòa quyện giữa khoa học giáo dục, tâm lí học, công nghệ số và thiết kế học liệu.

Những xu hướng ấy cho thấy tri thức hiện đại không vận hành theo logic phân mảnh mà phát triển theo hướng tích hợp và liên ngành.

Tuy nhiên, cấu trúc Danh mục ngành đào tạo hiện nay vẫn chủ yếu được tổ chức theo tư duy phân chia lĩnh vực truyền thống. Điều này từng phù hợp trong bối cảnh giáo dục đại học tinh hoa với quy mô nhỏ và nghề nghiệp ổn định, nhưng đang trở nên chật hẹp trước nhu cầu phát triển linh hoạt của hệ thống giáo dục đại học đại chúng.

Khi một chương trình đào tạo mới phải “ghép” vào một mã ngành cũ không tương thích, đó không chỉ là sự bất tiện về thủ tục hành chính mà còn làm sai lệch bản chất khoa học và định hướng nghề nghiệp của chương trình.

Tự chủ đại học cần không gian thể chế tương thích

Chủ trương tự chủ đại học đã mở ra một giai đoạn phát triển mới cho các cơ sở giáo dục đại học. Tuy nhiên, tự chủ sẽ khó phát huy đầy đủ hiệu quả nếu không đi kèm một không gian thể chế đủ rộng.

Việc mở ngành đào tạo mới hiện vẫn gắn chặt với cơ chế tiền kiểm theo mã ngành cố định. Trong khi đó, nhu cầu nhân lực của xã hội thay đổi nhanh hơn rất nhiều so với tốc độ điều chỉnh của hệ thống hành chính.

Một trường đại học muốn triển khai chương trình đào tạo liên ngành mới phải trải qua nhiều tầng thủ tục, đôi khi kéo dài qua nhiều chu kì tuyển sinh. Đến khi được phê duyệt, nhu cầu thị trường có thể đã thay đổi.

Tự chủ trong trường hợp này mới dừng ở quyền tự quyết nội bộ, còn quyền thích ứng học thuật vẫn bị giới hạn bởi khung quản lí cứng.

Đã đến lúc cần chuyển mạnh từ tư duy “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”, từ việc kiểm soát tên gọi ngành đào tạo sang giám sát chất lượng đầu ra và năng lực bảo đảm chất lượng của cơ sở đào tạo.

Đào tạo giáo viên: lĩnh vực chịu tác động rõ nét nhất

Nếu có một lĩnh vực cho thấy rõ sự “lệch pha” giữa Danh mục ngành đào tạo và yêu cầu thực tiễn, thì đó là đào tạo giáo viên.

Chương trình giáo dục phổ thông mới nhấn mạnh dạy học tích hợp, phát triển năng lực người học và tăng cường ứng dụng công nghệ số. Giáo viên ngày nay không chỉ truyền đạt kiến thức môn học mà còn phải tổ chức hoạt động trải nghiệm, hướng dẫn học sinh nghiên cứu, và thích ứng với môi trường học tập số.

Thế nhưng, đào tạo giáo viên vẫn chủ yếu được thiết kế theo các ngành đơn môn tách biệt. Mô hình này khiến quá trình đào tạo khó theo kịp yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông và làm gia tăng áp lực thiếu giáo viên cục bộ ở nhiều địa phương.

Tương tự, khoa học giáo dục hiện đại đã phát triển nhiều nhánh mới như công nghệ giáo dục, đo lường – đánh giá, thiết kế chương trình, quản lí giáo dục thông minh… nhưng chưa có vị trí tương xứng trong cấu trúc ngành đào tạo.

Việc điều chỉnh Danh mục ngành vì thế không chỉ là câu chuyện quản lí hành chính mà còn liên quan trực tiếp đến chất lượng nguồn nhân lực giáo dục quốc gia.

Từ “danh mục ngành” đến “khung lĩnh vực đào tạo mở”

Thay vì quản lí chi tiết từng ngành đào tạo, cơ quan quản lí nhà nước có thể chuyển sang mô hình quản lí theo các lĩnh vực đào tạo rộng, trao quyền cho các cơ sở giáo dục đại học tự thiết kế ngành và chương trình cụ thể.

Cách tiếp cận này giúp hệ thống vừa bảo đảm tính thống nhất trong quản lí vĩ mô, vừa tạo không gian linh hoạt cho đổi mới sáng tạo ở cấp cơ sở.

Song song đó, cần mạnh dạn bãi bỏ cơ chế “ngành thí điểm” vốn không còn phù hợp trong bối cảnh tự chủ đại học ngày càng được mở rộng. Thay cho cơ chế xin – cho là cơ chế đăng kí mở ngành dựa trên năng lực bảo đảm chất lượng và trách nhiệm giải trình.

Quản lí nhà nước trong giáo dục đại học vì thế cần chuyển trọng tâm từ việc “đặt tên ngành” sang việc “bảo đảm chất lượng đào tạo”.

Kiến tạo tương lai từ cải cách thể chế

Một hệ thống giáo dục đại học năng động cần một khung chính sách linh hoạt. Một môi trường học thuật sáng tạo cần không gian thể chế rộng mở. Và một nền kinh tế tri thức mạnh cần những đại học có khả năng thích ứng nhanh với các lĩnh vực nghề nghiệp mới.

Cải cách Danh mục ngành đào tạo vì thế không chỉ là điều chỉnh kĩ thuật quản lí, mà là bước chuyển quan trọng trong tư duy điều hành giáo dục đại học.

Khi cơ quan quản lí nhà nước sẵn sàng trao quyền nhiều hơn cho các cơ sở đào tạo, khi các trường đại học được chủ động thiết kế chương trình gắn với nhu cầu xã hội, khi chất lượng đầu ra trở thành thước đo thay cho thủ tục hành chính, giáo dục đại học sẽ có thêm động lực để bứt phá.

Đó không chỉ là yêu cầu của đổi mới giáo dục, mà còn là đòi hỏi tất yếu của sự phát triển đất nước trong kỉ nguyên tri thức.

Hướng Sáng