Việt Nam hiện có 66 cơ sở giáo dục đại học đào tạo nhân lực y tế, trong đó có khoảng 34 cơ sở đào tạo bác sĩ y khoa, mỗi năm cung cấp khoảng 12.000 bác sĩ mới cho hệ thống y tế. Trong bối cảnh quy mô đào tạo mở rộng nhanh, việc triển khai kỳ đánh giá năng lực hành nghề bác sĩ từ năm 2027 được xem là giải pháp quan trọng nhằm chuẩn hóa chất lượng đầu ra trên toàn hệ thống.
Hoạt động đào tạo bác sĩ hiện không còn là “sân chơi” riêng của các trường công lập truyền thống, mà đã mở rộng mạnh sang khối tư thục và các trường đại học đa ngành.
Theo thống kê của phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, cả nước hiện có khoảng 34 cơ sở đào tạo ngành bác sĩ Y khoa, 21 cơ sở đào tạo bác sĩ Răng-Hàm-Mặt, 14 cơ sở đào tạo bác sĩ Y học cổ truyền và 11 cơ sở đào tạo bác sĩ Y học dự phòng.
Bộ Y tế cho biết số bác sĩ tốt nghiệp năm 2024 khoảng 12.000 người. [1]
Trước năm 2011, đào tạo bác sĩ tại Việt Nam gần như là "sân chơi" riêng của các trường công lập trọng điểm, với hệ thống bệnh viện thực hành, đội ngũ giảng viên và truyền thống đào tạo lâu năm. Tuy nhiên, sự xuất hiện của Trường Đại học Võ Trường Toản với tư cách là cơ sở giáo dục đại học tư thục đầu tiên đào tạo Y khoa đã mở ra một giai đoạn xã hội hóa mạnh mẽ trong giáo dục y khoa.
Sự tham gia ngày càng nhiều của các cơ sở giáo dục đại học tư thục và các trường đa ngành trong đào tạo các ngành thuộc lĩnh vực sức khỏe đã tạo nên một thị trường nhân lực y khoa sôi động, đa dạng nhưng cũng đầy thách thức về mặt chất lượng.
Sau hơn một thập kỷ, cơ cấu hệ thống đào tạo bác sĩ đã thay đổi rõ rệt. Trong khoảng 34 cơ sở đào tạo Y khoa trên cả nước, có 16 cơ sở giáo dục đại học tư thục, tương đương gần 50%.
Tỷ lệ này ở ngành Răng - Hàm - Mặt cũng ở mức cao. Trong tổng số 21 cơ sở đào tạo, có tới 10cơ sở giáo dục đại học tư thục tham gia, cho thấy xu hướng xã hội hóa ngày càng rõ nét.
Ở lĩnh vực Y học cổ truyền, khối tư thục cũng đang từng bước mở rộng hiện diện với 5/14 cơ sở đào tạo.
Trong khi đó, Y học dự phòng vẫn chủ yếu do các cơ sở công lập đảm nhiệm, khi chỉ có 2/11 cơ sở giáo dục đại học tư thục tham gia đào tạo.
Ảnh minh họa: Sinh viên và giảng viên Đại học Phenikaa
Một đặc điểm nổi bật trong những năm gần đây là làn sóng các trường đại học đa ngành, đa lĩnh vực tham gia đào tạo khối ngành sức khỏe. Một số mô hình tiêu biểu có thể kể đến như nhóm trường được hậu thuẫn bởi các tập đoàn kinh tế lớn, đầu tư đồng bộ cả cơ sở đào tạo và bệnh viện thực hành như Trường Đại học VinUni, Đại học Phenikaa; hay các cơ sở giáo dục đại học tư thục lâu năm mở rộng sang lĩnh vực y dược nhằm hoàn thiện hệ sinh thái đào tạo như Trường Đại học Văn Lang, Trường Đại học Nguyễn Tất Thành, Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng,...
Sự gia tăng nhanh số lượng cơ sở đào tạo đang mở rộng cơ hội tiếp cận cho người học, đồng thời giảm áp lực cạnh tranh. Tuy nhiên, đào tạo bác sĩ là lĩnh vực đặc thù, đòi hỏi sự gắn kết chặt chẽ giữa lý thuyết và thực hành lâm sàng. Khi quy mô phát triển nhanh, nguy cơ phân tán nguồn lực giảng viên, chênh lệch chất lượng đầu vào và phụ thuộc vào cơ sở thực hành liên kết là những vấn đề hiện hữu.
Thực tế, khung pháp lý đối với đào tạo khối ngành sức khỏe đã đặt ra những yêu cầu rất cao. Theo quy định hiện hành, để mở ngành đào tạo, các cơ sở giáo dục phải đáp ứng đồng thời các điều kiện về đội ngũ giảng viên và hệ thống cơ sở thực hành. Giảng viên giảng dạy các học phần liên quan đến khám, chữa bệnh phải có chứng chỉ hành nghề và đang trực tiếp làm việc tại cơ sở y tế đủ điều kiện thực hành. Đồng thời, mỗi ngành đào tạo đều phải bảo đảm số lượng tối thiểu giảng viên cơ hữu có trình độ tiến sĩ ở các lĩnh vực chuyên môn khác nhau, đặc biệt là các chuyên ngành lâm sàng.
Bên cạnh đó, yêu cầu về cơ sở vật chất cũng rất khắt khe. Các trường phải có đầy đủ hệ thống phòng thí nghiệm, phòng thực hành và trung tâm tiền lâm sàng cho từng nhóm ngành; đồng thời bảo đảm liên kết hoặc sở hữu cơ sở khám, chữa bệnh đạt chuẩn để tổ chức đào tạo thực hành cho sinh viên.
Đáng chú ý, từ ngày 1/1/2027, theo quy định của Luật Khám bệnh, chữa bệnh, bác sĩ tốt nghiệp phải vượt qua kỳ thi đánh giá năng lực do Hội đồng Y khoa quốc gia tổ chức mới được cấp phép hành nghề. Quy định này được kỳ vọng sẽ trở thành “bộ lọc” quan trọng, buộc các cơ sở đào tạo nâng cao chất lượng, hạn chế tình trạng mở ngành ồ ạt nhưng thiếu kiểm soát.
Trước đó, hồi cuối tháng 11/2025, tại phiên thảo luận tổ của Quốc hội về chủ trương đầu tư các Chương trình Mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026-2035 trong lĩnh vực y tế và giáo dục, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Nguyễn Hòa Bình cho biết, định hướng sắp tới sẽ không cho phép các trường đại học không chuyên đào tạo một số lĩnh vực đặc thù; trong đó, với ngành y, “chỉ có trường y mới được đào tạo bác sĩ”, nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam thống kê điểm chuẩn các ngành Y đa khoa, Răng - Hàm - Mặt, Y học cổ truyền và Y học dự phòng (theo phương thức xét bằng điểm thi tốt nghiệp trung học phổ thông 2025) của các cơ sở đào tạo trên cả nước để thí sinh, phụ huynh thuận tiện đối sánh:
Dữ liệu tuyển sinh cho thấy sự phân tầng khá rõ rệt về điểm chuẩn đầu vào giữa các cơ sở đào tạo. Ở khối công lập, đặc biệt là các trường y dược đầu ngành và các trường thuộc đại học quốc gia, điểm chuẩn tuyển sinh ngành bác sĩ y khoa phổ biến trong khoảng từ 25 đến trên 28 điểm; cá biệt có trường hợp đạt tới 30 điểm đối với một số đối tượng tuyển sinh.
Trong khi đó, tại khối trường đa ngành, tư thục, mặt bằng điểm chuẩn ngành bác sĩ y khoa nhìn chung thấp hơn.
Điểm chuẩn ngành Y đa khoa:
| STT | Tên trường | Loại hình | Điểm chuẩn (2025) |
| 1 | Học viện Quân y | Công lập | 30 |
| 2 | Trường Đại học Y Hà Nội | Công lập | 28.13 |
| 3 | Trường Đại học Y dược - Đại học Quốc gia Hà Nội | Công lập | 27.43 |
| 4 | Trường Đại học Y dược Thành phố Hồ Chí Minh | Công lập | 27.34 |
| 5 | Trường Đại học Y dược - Đại học Thái Nguyên | Công lập | 25.85 |
| 6 | Trường Đại học Khoa học sức khỏe - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh | Công lập | 25.6 |
| 7 | Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch | Công lập | 25.55 |
| 8 | Trường Đại học Y dược Hải Phòng | Công lập | 25.33 |
| 9 | Trường Đại học Y dược - Đại học Huế | Công lập | 25.17 |
| 10 | Trường Đại học Y dược Thái Bình | Công lập | 24.6 |
| 11 | Học viện Y Dược học cổ truyền Việt Nam | Công lập | 24.25 |
| 12 | Trường Đại học Y dược Cần Thơ | Công lập | 23.88 |
| 13 | Trường Đại học Kỹ thuật Y tế Hải Dương | Công lập | 23.8 |
| 14 | Trường Y dược - Đại học Đà Nẵng | Công lập | 23 |
| 15 | Trường Đại học Kỹ thuật Y dược Đà Nẵng | Công lập | 22.85 |
| 16 | Trường Đại học Y khoa Vinh | Công lập | 22.1 |
| 17 | Trường Đại học Tây Nguyên | Công lập | 21.76 |
| 18 | Trường Đại học Trà Vinh | Công lập | 21.25 |
| 19 | Đại học Phenikaa | Tư thục | 22.5 |
| 20 | Trường Đại học Y dược Buôn Ma Thuột | Tư thục | 22 |
| 21 | Trường Đại học Phan Châu Trinh | Tư thục | 21.5 |
| 22 | Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội | Tư thục | 20.5 |
| 23 | Trường Đại học Văn Lang | Tư thục | 20.5 |
| 24 | Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng | Tư thục | 20.5 |
| 25 | Trường Đại học Nguyễn Tất Thành | Tư thục | 20.5 |
| 26 | Đại học Duy Tân | Tư thục | 20.5 |
| 27 | Trường Đại học Tân Tạo | Tư thục | 20.5 |
| 28 | Trường Đại học Yersin Đà Lạt | Tư thục | 20.5 |
| 29 | Trường Đại học Đại Nam | Tư thục | 20.5 |
| 30 | Trường Đại học Nam Cần Thơ | Tư thục | 20.5 |
| 31 | Trường Đại học Võ Trường Toản | Tư thục | 20.5 |
| 32 | Trường Đại học Đông Á | Tư thục | 20.5 |
| 33 | Trường Đại học Hòa Bình | Tư thục | 20.5 |
| 34 | Trường Đại học VinUni | Tư thục | Tuyển sinh theo đề án riêng của trường |
Điểm chuẩn ngành Răng - Hàm - Mặt:
| STT | Tên trường | Loại hình | Điểm chuẩn (2025) |
| 1 | Trường Đại học Y Hà Nội | Công lập | 27.34 |
| 2 | Trường Đại học Y Dược - Đại học Quốc gia Hà Nội | Công lập | 26.99 |
| 3 | Trường Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh | Công lập | 26.45 |
| 4 | Trường Đại học Y Dược - Đại học Thái Nguyên | Công lập | 26.15 |
| 5 | Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch | Công lập | 25.26 |
| 6 | Trường Đại học Khoa học Sức khỏe - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh | Công lập | 25 |
| 7 | Trường Đại học Y Dược Hải Phòng | Công lập | 24.63 |
| 8 | Trường Đại học Y Dược - Đại học Huế | Công lập | 24.4 |
| 9 | Trường Đại học Y Dược Cần Thơ | Công lập | 23.35 |
| 10 | Trường Y Dược - Đại học Đà Nẵng | Công lập | 23.23 |
| 11 | Trường Đại học Trà Vinh | Công lập | 20.75 |
| 12 | Trường Đại học Phan Châu Trinh | Tư thục | 21.75 |
| 13 | Trường Đại học Văn Lang | Tư thục | 20.5 |
| 14 | Trường Đại học Quốc tế Hồng Bang | Tư thục | 20.5 |
| 15 | Trường Đại học Nguyễn Tất Thành | Tư thục | 20.5 |
| 16 | Trường Đại học Võ Trường Toản | Tư thục | 20.5 |
| 17 | Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội | Tư thục | 20.5 |
| 18 | Đại học Duy Tân | Tư thục | 20.5 |
| 19 | Trường Đại học Nam Cần Thơ | Tư thục | 20.5 |
| 20 | Trường Đại học Gia Định | Tư thục | 20.5 |
| 21 | Trường Đại học Cửu Long | Tư thục | 19 |
Điểm chuẩn ngành Y học cổ truyền:
| STT | Tên trường | Loại hình | Điểm chuẩn (2025) |
| 1 | Trường Đại học Y Dược Hải Phòng | Công lập | 24.03 |
| 2 | Trường Đại học Y Hà Nội | Công lập | 23.5 |
| 3 | Trường Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh | Công lập | 21.5 |
| 4 | Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch | Công lập | 21.1 |
| 5 | Học viện Y Dược học cổ truyền Việt Nam | Công lập | 21 |
| 6 | Trường Đại học Khoa học Sức khỏe - Đại học Quốc Gia Thành phố Hồ Chí Minh | Công lập | 20.1 |
| 7 | Trường Đại học Y Dược - Đại học Huế | Công lập | 19.6 |
| 8 | Trường Đại học Y Dược Cần Thơ | Công lập | 19.5 |
| 9 | Trường Đại học Y Dược Thái Bình | Công lập | 19 |
| 10 | Trường Đại học Cửu Long | Tư thục | 20.5 |
| 11 | Trường Đại học Nguyễn Tất Thành | Tư thục | 19 |
| 12 | Trường Đại học Quốc tế Hồng Bàng | Tư thục | 19 |
| 13 | Trường Đại Học Lương Thế Vinh | Tư thục | 19 |
| 14 | Trường Đại học Hòa Bình | Tư thục | 19 |
Điểm chuẩn ngành Y học dự phòng:
| STT | Tên trường | Loại hình | Điểm chuẩn (2025) |
| 1 | Trường Đại học Y Dược Hải Phòng | Công lập | 19.35 |
| 2 | Trường Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh | Công lập | 19 |
| 3 | Trường Đại học Y Dược - Đại học Thái Nguyên | Công lập | 18.3 |
| 4 | Trường Đại học Y Khoa Vinh | Công lập | 17.25 |
| 5 | Trường Đại học Y Dược Thái Bình | Công lập | 17 |
| 6 | Trường Đại học Trà Vinh | Công lập | 17 |
| 7 | Trường Đại học Y Dược - Đại học Huế | Công lập | 17 |
| 8 | Trường Đại học Y Dược Cần Thơ | Công lập | 17 |
| 9 | Trường Đại học Y Hà Nội | Công lập | 17 |
| 10 | Trường Đại học Nguyễn Tất Thành | Tư thục | 17 |
| 11 | Trường Đại học Nam Cần Thơ | Tư thục | 17 |
Theo Quy hoạch mạng lưới y tế quốc gia, Việt Nam đặt mục tiêu đạt 15 bác sĩ/10.000 dân vào năm 2025 và tiến tới 35 bác sĩ/10.000 dân vào năm 2050.
Tài liệu tham khảo:
[1]: https://thanhnien.vn/thu-truong-bo-y-te-noi-ve-ky-thi-cap-phep-hanh-nghe-y-quoc-gia-185250623165450936.htm