Bộ Giáo dục và Đào tạo hiện đang lấy ý kiến góp ý đối với dự thảo thông tư quy định về chuẩn cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Theo dự thảo, một cơ sở giáo dục nghề nghiệp được công nhận đạt chuẩn khi đáp ứng các điều kiện tại điều 6 và đạt mức tối thiểu các chỉ số hoạt động theo quy định tại điều 7.
Tuy nhiên, theo nhiều lãnh đạo trường cao đẳng, cơ sở giáo dục nghề nghiệp có thể gặp phải một số khó khăn, thách thức nếu dự thảo thông tư được ban hành, thực thi.
Thước đo để người học và doanh nghiệp lựa chọn cơ sở phù hợp
Chia sẻ với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Thạc sĩ Nguyễn Quang Khải – Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Tiền Giang cho rằng, việc ban hành chuẩn cơ sở giáo dục nghề nghiệp có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh thị trường lao động ngày càng đòi hỏi nguồn nhân lực có kỹ năng cao, gắn với công nghệ 4.0.
Thầy Khải cho rằng, chuẩn cơ sở giáo dục nghề nghiệp được xem như “thước đo” chung nhằm đánh giá chất lượng đào tạo một cách minh bạch, định lượng, đồng thời chuyển mạnh từ quản lý đầu vào sang chú trọng đầu ra như việc làm, mức độ hài lòng của người học và doanh nghiệp. Hơn nữa, chuẩn này cũng thúc đẩy các cơ sở giáo dục nghề nghiệp đẩy mạnh tăng cường liên kết với doanh nghiệp, cập nhật chương trình, công nghệ và đẩy mạnh chuyển đổi số trong đào tạo, qua đó góp phần nâng cao chất lượng toàn hệ thống và tạo sự cạnh tranh lành mạnh giữa các cơ sở đào tạo.
Không những vậy, chuẩn cơ sở giáo dục nghề nghiệp còn tác động đến việc tái cấu trúc mạng lưới giáo dục nghề nghiệp theo hướng tinh gọn, hiệu quả, đồng thời nâng cao uy tín của giáo dục nghề nghiệp, đáp ứng tốt hơn nhu cầu phát triển nguồn nhân lực quốc gia.
Đồng tình với quan điểm trên, Thạc sĩ Lê Thiên Vinh - Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Kỹ thuật Quảng Trị cho rằng, việc ban hành chuẩn cơ sở giáo dục nghề nghiệp có vai trò rất quan trọng trong bối cảnh hiện nay bởi nó thúc đẩy các cơ sở giáo dục nghề nghiệp phải không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo, đặc biệt gắn với nhu cầu doanh nghiệp và việc làm.
Trong khi đó, Thạc sĩ Nguyễn Phan Anh Quốc – Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Công nghệ - Năng lượng Khánh Hòa cho biết, thời gian qua các cơ sở giáo dục nghề nghiệp chủ yếu thực hiện tự đánh giá và đánh giá ngoài về chất lượng đào tạo.
Do đó, việc ban hành chuẩn cơ sở giáo dục nghề nghiệp có ý nghĩa rất quan trọng, giúp các nhà trường có căn cứ tham chiếu để trước mắt phấn đấu đạt mức tiêu chuẩn tối thiểu theo quy định, sau đó tiếp tục nâng cao chất lượng để vượt chuẩn. Đồng thời, đây cũng là cơ sở để cơ quan quản lý nhà nước rà soát, sắp xếp và phân loại lại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp; những trường không đáp ứng yêu cầu có thể bị giải thể.
Bên cạnh đó, việc công khai chuẩn của mỗi cơ sở giáo dục nghề nghiệp cũng giúp người học có thêm thông tin để lựa chọn cơ sở đào tạo phù hợp, nhất là tại những địa phương có nhiều cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Ngoài ra, đây cũng là căn cứ để các trường công khai với doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp nhận diện cơ sở đào tạo có chất lượng, từ đó thúc đẩy hợp tác trong đào tạo và tuyển dụng.
Cần quy định linh hoạt hơn theo vùng và điều kiện thực tế
Tuy nhiên, theo thầy Khải, nếu triển khai dự thảo chuẩn cơ sở giáo dục nghiệp, trong thực tế, nhiều trường cao đẳng và trung cấp có thể gặp khó khăn ở một số điều kiện cũng như chỉ số do hạn chế về nguồn lực, cơ chế phối hợp chưa hiệu quả cùng áp lực cạnh tranh tuyển sinh.
Cụ thể, đối với điều 6 của dự thảo, điều kiện về đội ngũ giảng viên (điều kiện 2 - Có đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý đủ về số lượng và đạt tiêu chuẩn về chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu của ngành, nghề đào tạo và quy mô đào tạo theo quy định) có thể là thách thức khi nhiều cơ sở giáo dục nghề nghiệp thiếu giảng viên giỏi thực hành và khó thu hút nhân lực chất lượng cao; các điều kiện về cơ sở vật chất, tài chính cũng là rào cản do thiếu kinh phí, thiết bị lạc hậu, khó đầu tư đồng bộ.
Bên cạnh đó, tại điều 7 của dự thảo, nhiều cơ sở giáo dục nghề nghiệp có thể sẽ khó đạt các chỉ số về tuyển sinh và quy mô do xu hướng xã hội hiện vẫn đang chuộng vào học đại học khiến nguồn tuyển sinh có một số năm bị giảm.
Đặc biệt, chỉ số cơ sở 1- Tỷ lệ tuyển sinh thực tế so với kế hoạch tuyển sinh hằng năm đạt từ 60% trở lên tại điều 7 của dự thảo có thể gây khó đối với nhiều cơ sở giáo dục nghề nghiệp, nhất là những trường ở địa phương, do nguồn tuyển giảm, dân số không ổn định, cạnh tranh tuyển sinh cao và một số ngành đào tạo chưa thực sự hấp dẫn hoặc chưa sát nhu cầu thị trường. Nếu áp dụng tỷ lệ này, nhiều nhà trường có thể đối mặt với nguy cơ không đạt chuẩn, áp lực chạy theo chỉ tiêu, từ đó làm ảnh hưởng đến chất lượng đầu vào và khó cân đối giữa quy mô đào tạo với nguồn lực hiện có. Vì vậy, cần có quy định linh hoạt theo vùng và điều kiện thực tế.
Ngoài ra, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp cũng có thể gặp khó đối với chỉ số cơ sở 6 - Tỷ lệ ngành, nghề đào tạo có thiết bị, công nghệ đào tạo được cập nhật đáp ứng yêu cầu của chương trình đào tạo đạt từ 70% trở lên do chi phí cập nhật thiết bị lớn, công nghệ thay đổi nhanh; khó đạt chỉ số cơ sở 10 - Tỷ lệ ngành, nghề có sự tham gia của doanh nghiệp trong quá trình đào tạo đạt từ 70% trở lên do thực tế hiện nay doanh nghiệp chưa tích cực phối hợp trong đào tạo; và chỉ số cơ sở 11 - Tỷ lệ người học sau tốt nghiệp có việc làm phù hợp nhóm ngành, nghề đào tạo hoặc tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học nâng cao trình độ đạt từ 70% do các trường nghề vẫn phụ thuộc nhiều vào thị trường lao động.
“Tóm lại, đối với các quy định tại điều 6 và điều 7 của dự thảo cần bổ sung tính linh hoạt theo vùng và loại hình trường để đảm bảo tính khả thi. Một số chỉ số như tuyển sinh, việc làm nên có lộ trình hoặc biên độ phù hợp với thực tế; đồng thời cần làm rõ mức độ tham gia của doanh nghiệp để tránh hình thức, bổ sung tiêu chí về chất lượng chuyển đổi số và năng lực thực hành của người học. Bên cạnh đó, cần có cơ chế hỗ trợ đi kèm như tài chính, đào tạo giáo viên, tăng cường liên kết doanh nghiệp để các trường có điều kiện đạt chuẩn, bảo đảm chuẩn vừa nâng cao chất lượng, vừa phù hợp với thực tiễn triển khai”, thầy Khải nói.
Còn theo Thạc sĩ Lê Thiên Vinh, yêu cầu tỷ lệ tuyển sinh thực tế so với kế hoạch tuyển sinh hằng năm đạt từ 60% trở lên tại điều 7 của dự thảo là một thách thức không nhỏ đối với một số cơ sở giáo dục nghề nghiệp, đặc biệt ở địa phương. Thực tế hiện nay, nguồn tuyển giảm, tâm lý người học vẫn ưu tiên đại học, trong khi điều kiện kinh tế – xã hội ở một số địa phương còn hạn chế, nên việc đạt 60% kế hoạch tuyển sinh không dễ.
Đối với Trường Cao đẳng Kỹ thuật Quảng Trị, chỉ số này không phải là vấn đề lớn, bởi công tác tuyển sinh của nhà trường luôn đạt hiệu quả cao trong nhiều năm qua. Tuy nhiên, trong bối cảnh cạnh tranh và biến động nguồn tuyển, nhà trường vẫn cần duy trì ổn định chất lượng đào tạo, tăng cường truyền thông, hướng nghiệp và gắn đào tạo với việc làm để giữ vững kết quả này một cách bền vững.
Mặt khác, thầy Vinh cũng chỉ ra một số quy định tại điều 7 của dự thảo chuẩn cơ sở giáo dục nghề nghiệp khi triển khai có thể khiến nhiều cơ sở giáo dục nghề nghiệp gặp khó khăn.
Đơn cử như đối với chỉ số cơ sở 3 - Tỷ lệ ngành, nghề có tổ chức đào tạo so với tổng số nhóm ngành, nghề, được cấp phép đào tạo; trong đó đối với các nhóm ngành, nghề trình độ đào tạo bậc học cao nhất của cơ sở giáo dục nghề nghiệp đạt từ 60% trở lên. Trên thực tế, nhiều cơ sở giáo dục nghề nghiệp được cấp phép nhiều ngành nghề nhưng không thể triển khai đồng loạt do thiếu người học, thiếu giáo viên hoặc chưa đủ điều kiện mở lớp, ... Nếu yêu cầu tỷ lệ cao (từ 60% trở lên có thể dẫn đến việc các trường phải mở ngành mang tính hình thức hoặc dàn trải nguồn lực, thay vì tập trung đầu tư vào những ngành thế mạnh.
Tại nội dung chỉ số cơ sở 10 quy định tỷ lệ ngành, nghề có sự tham gia của doanh nghiệp trong quá trình đào tạo đạt từ 70% trở lên là một yêu cầu tích cực nhưng cũng khá thách thức. Khó khăn ở chỗ không phải địa phương nào cũng có đủ doanh nghiệp phù hợp với tất cả ngành nghề đào tạo. Ngoài ra, nhiều doanh nghiệp chưa sẵn sàng tham gia sâu vào quá trình đào tạo.
Không những vậy, tại nội dung chỉ số cơ sở 11 - Tỷ lệ người học sau tốt nghiệp có việc làm phù hợp nhóm ngành, nghề đào tạo hoặc tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học nâng cao trình độ đạt từ 70%, điều này phụ thuộc nhiều vào thị trường lao động, doanh nghiệp và biến động kinh tế, không hoàn toàn do các trường quyết định.
Thầy Quốc thông tin, hầu hết các chỉ số cơ sở tại điều 7 của dự thảo hiện nay Trường Cao đẳng Công nghệ - Năng lượng Khánh Hòa đều đã đạt, thậm chí một số chỉ số còn vượt mức tối thiểu. Tuy nhiên, theo thầy Quốc, một số cơ sở giáo dục nghề nghiệp, đặc biệt những trường ở vùng sâu, vùng xa có thể gặp khó khăn đối với chỉ số tỷ lệ tuyển sinh thực tế đạt từ 60% so với kế hoạch hằng năm. Dù là quy định khó, nhưng đây là tiêu chí cần thiết, nhất là tại những địa phương có số lượng cơ sở giáo dục nghề nghiệp nhiều, qua đó góp phần sắp xếp, tổ chức lại hệ thống theo hướng tinh gọn, hiệu quả, tránh đầu tư dàn trải, manh mún.
Ngoài ra, thầy Quốc cho biết, tại điều 6 của dự thảo có quy định tỷ lệ nhà giáo cơ hữu giảng dạy thực hành đạt tối thiểu 50% đối với trình độ cao đẳng và 40% đối với trình độ trung cấp, trung học nghề có thể gây khó khăn cho một số ngành nghề. Nguyên nhân là do nhiều lĩnh vực khó tuyển dụng giáo viên cơ hữu dù vẫn có nhu cầu người học, nên các cơ sở giáo dục nghề nghiệp hiện vẫn phải ký hợp đồng thỉnh giảng với cán bộ, chuyên gia từ doanh nghiệp. Đối với một số lĩnh vực như nông nghiệp, thủy sản, nghệ thuật, quy định này càng khó thực hiện vì đội ngũ chuyên gia có tay nghề cao thường lựa chọn làm việc tại doanh nghiệp với thu nhập cao hơn so với làm giảng viên cơ hữu tại các trường nghề.