Trường nghề lo rơi vào thế khó khi dự thảo Chuẩn GDNN thiết kế chỉ số “định lượng cứng”

02/04/2026 06:25
Thúy Hiền

GDVN - Việc thiết kế các chỉ số theo hướng “định lượng cứng” vô tình đặt cơ sở đào tạo vào thế khó mang tính cấu trúc, trong khi xuất phát điểm không đồng đều.

Dự thảo Thông tư ban hành Chuẩn cơ sở giáo dục nghề nghiệp quy định một cơ sở chỉ được công nhận đạt chuẩn khi đồng thời đáp ứng các yêu cầu nêu tại Điều 6 và bảo đảm mức tối thiểu đối với các chỉ số hoạt động quy định tại Điều 7.

Theo đó, Điều 7 đề xuất hệ thống 15 chỉ số hoạt động như một bộ tiêu chí đánh giá tổng thể. Trong đó, chỉ số cơ sở 1 và chỉ số cơ sở 8 có mối liên hệ chặt chẽ với nhau đang nhận được nhiều sự quan tâm từ phía các lãnh đạo cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Một số ý kiến bày tỏ lo ngại rằng nếu hai chỉ số này được áp dụng theo hướng thiếu linh hoạt, có thể gây áp lực đáng kể trong quá trình thực hiện, đồng thời làm hạn chế khả năng thích ứng của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trước những biến động thực tiễn.

Cơ sở đào tạo gặp áp lực khi áp dụng chung một thước đo nhưng khác “vạch xuất phát”

Tại Điều 7 Dự thảo Chuẩn cơ sở giáo dục nghề nghiệp, chỉ số cơ sở 1 nêu: Tỷ lệ tuyển sinh thực tế so với kế hoạch tuyển sinh hằng năm đạt từ 60% trở lên.

Chỉ số cơ sở 8 yêu cầu: Kết thúc khóa đào tạo, tỷ lệ bỏ học của người học toàn trường không vượt quá 20% tổng số tuyển sinh.

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Tiến sĩ Lê Lâm - Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Đại Việt Sài Gòn cho biết, thực tế vận hành của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp hiện nay, khó khăn lớn nhất không nằm ở năng lực nội tại của nhà trường mà ở tính bất định mang tính hệ thống của nguồn tuyển và hành vi người học.

Nguồn tuyển người học chịu chi phối bởi nhiều yếu tố, từ hiệu quả phân luồng sau trung học phổ thông, tâm lý xã hội còn nặng về bằng cấp đến những biến động của kinh tế vĩ mô. Trong bối cảnh kinh tế khó khăn, xu hướng lựa chọn của người học có phần thực dụng hơn, ưu tiên các lộ trình ngắn, chi phí thấp, sớm tạo ra thu nhập, thậm chí sẵn sàng rời bỏ việc học để tham gia thị trường lao động. Điều này khiến các ngành đào tạo dài hạn, đặc biệt là khối kỹ thuật vốn đòi hỏi thời gian tích lũy kỹ năng và tính kiên trì cao ngày càng kém hấp dẫn, kéo theo rủi ro lớn trong công tác tuyển sinh.

Trong bối cảnh đó, việc thiết kế các chỉ số quản lý theo hướng “định lượng cứng” như tỷ lệ tuyển sinh thực tế tối thiểu đạt từ 60% hay tỷ lệ bỏ học của người học toàn trường không vượt quá 20% tổng số tuyển sinh đã vô tình đặt các cơ sở đào tạo vào một thế khó mang tính cấu trúc.

ts-le-lam.jpg
Tiến sĩ Lê Lâm - Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Đại Việt Sài Gòn. Ảnh: website nhà trường.

“Về lý thuyết, các ngưỡng này là hợp lý nếu hệ thống vận hành ổn định và đồng đều. Tuy nhiên, trên thực tế, giáo dục nghề nghiệp có độ phân hóa cao, cả theo ngành nghề lẫn theo loại hình trường. Những ngành như kỹ thuật, cơ khí, công nghệ, tỷ lệ bỏ học luôn ở mức cao và có thể lên tới 50-60% do đặc thù đào tạo nặng, yêu cầu kỹ năng thực hành lớn trong khi đầu vào của người học lại không đồng đều.

Nhiều sinh viên lựa chọn học cao đẳng không xuất phát từ định hướng rõ ràng mà chủ yếu do không đủ điều kiện vào đại học hoặc xem đây như một “trạm trung chuyển” trước khi chuyển hướng sang đi làm, xuất khẩu lao động, thậm chí ôn thi lại ở các năm sau. Khi động cơ học tập không bền vững, việc bỏ học trở thành một lựa chọn có tính toán chứ không đơn giản chỉ là hệ quả của chất lượng đào tạo.

Ngược lại, ở một số ngành dịch vụ, sư phạm hoặc lĩnh vực có yêu cầu đào tạo nhẹ hơn, tỷ lệ bỏ học thường thấp, chỉ dao động khoảng 15-20%. Sự chênh lệch lớn giữa các nhóm ngành khiến việc áp dụng một ngưỡng chung 20% tỷ lệ bỏ học cho toàn trường trở nên thiếu thực tiễn. Trên thực tế, nếu tính bình quân, nhiều cơ sở đào tạo có tỷ lệ bỏ học dao động khoảng 30% hoặc cao hơn, việc vượt ngưỡng không hẳn phản ánh chất lượng đào tạo yếu kém mà chủ yếu xuất phát từ đặc thù cơ cấu ngành nghề đào tạo.

Điều này cho thấy các chỉ số hiện nay đang được xây dựng theo hướng “bình quân hóa”, trong khi thực tiễn lại mang tính phân tầng và độ lệch rất rõ rệt giữa các lĩnh vực”, Tiến sĩ Lê Lâm cho hay.

cao-dang-dai-viet-sai-gon-7.jpg
Sinh viên Trường Cao đẳng Đại Việt Sài Gòn trong giờ thực hành. Ảnh: website nhà trường.

Không chỉ dừng lại ở đó, tỷ lệ tuyển sinh và tỷ lệ bỏ học còn có mối quan hệ mang tính dây chuyền. Khi không tuyển đủ đầu vào, cơ sở đào tạo dễ rơi vào vòng xoáy suy giảm quy mô: nguồn tuyển thấp khiến việc tổ chức đào tạo kém hiệu quả, chất lượng trải nghiệm học tập bị ảnh hưởng, kéo theo tỷ lệ bỏ học gia tăng; hệ quả là đầu ra suy giảm, uy tín bị ảnh hưởng và công tác tuyển sinh những năm sau càng thêm khó khăn.

Đặc biệt, với các ngành kỹ thuật, nếu ngay từ đầu không đạt chỉ tiêu tuyển sinh, sau đó tiếp tục sụt giảm 30-50% người học trong quá trình đào tạo, quy mô lớp học sẽ bị thu hẹp đáng kể, kéo theo hàng loạt hệ lụy về tổ chức giảng dạy và cân đối tài chính. Trong bối cảnh đó, việc yêu cầu duy trì tỷ lệ bỏ học dưới 20% gần như trở thành mục tiêu khó khả thi đối với nhiều cơ sở đào tạo.

Vấn đề càng trở nên phức tạp khi đặt trong bối cảnh sự phân tầng rõ rệt giữa các cơ sở đào tạo. Ngay trong khối trường công lập đã tồn tại khoảng cách đáng kể: một số trường trọng điểm tại các đô thị lớn, có uy tín lâu năm, vẫn duy trì được nguồn tuyển ổn định; trong khi nhiều trường ở địa phương gặp khó khăn trong việc thu hút người học và khó đảm bảo quy mô tuyển sinh theo kế hoạch.

Ở khối tư thục, áp lực còn lớn hơn khi các cơ sở phải tự chủ hoàn toàn về tài chính, trong khi khả năng thu hút người học phụ thuộc đáng kể vào uy tín thương hiệu và nguồn lực đầu tư. Thực tế này cho thấy, không phải cơ sở đào tạo nào cũng bắt đầu với cùng một điểm xuất phát nhưng lại đang được đánh giá theo một bộ tiêu chí chung, thiếu sự phân hóa phù hợp với điều kiện và đặc thù của từng nhóm trường.

Ngoài ra, đối với các trường chưa đạt Chuẩn, nếu áp dụng các chế tài xử phạt cứng là chưa phù hợp với bản chất vận hành của hệ thống. Do đó, thay vì tiếp cận theo hướng kiểm soát, cần chuyển sang hướng hỗ trợ và điều tiết. Điều này bao gồm việc phân luồng thực chất hơn từ giáo dục phổ thông, điều chỉnh chỉ tiêu theo nhu cầu thị trường lao động, triển khai cơ chế “đặt hàng đào tạo” gắn với doanh nghiệp và thậm chí là tái phân bổ nguồn lực giữa trường công và trường tư. Khi Nhà nước đóng vai trò kiến tạo và chia sẻ, thay vì chỉ đặt ra các ngưỡng kỹ thuật, hệ thống giáo dục nghề nghiệp mới có thể vận hành ổn định hơn, từ đó nâng cao chất lượng đào tạo và giảm tỷ lệ bỏ học một cách bền vững.

Cần tạo điều kiện thúc đẩy thay vì xử phạt nếu không đạt

Cũng liên quan đến chỉ số tỷ lệ người học bỏ học không vượt quá 20% tổng số tuyển sinh sau khi kết thúc khóa đào tạo, Thạc sĩ Đặng An Bình - Hiệu trưởng Trường Cao đẳng nghề Kỹ thuật Công nghệ cho rằng đây là mục tiêu cần hướng tới nhưng mang tính lý tưởng, đặc biệt trong bối cảnh đặc thù của giáo dục nghề nghiệp.

Khác với giáo dục đại học - nơi người học thường theo đuổi trọn vẹn chương trình để lấy bằng thì ở hệ cao đẳng và trung cấp, đặc biệt trong các ngành kỹ thuật, xu hướng tiếp cận mang tính thực dụng rõ nét hơn. Người học ưu tiên tích lũy kỹ năng và gia nhập thị trường lao động trong thời gian sớm nhất. Vì vậy, không ít trường hợp chỉ theo học một phần chương trình, đạt được một số chứng chỉ nghề hoặc tích lũy đủ năng lực cần thiết rồi chủ động rời trường.

Điều này khiến khái niệm “bỏ học” trong giáo dục nghề nghiệp không hoàn toàn đồng nghĩa với thất bại đào tạo mà trong một số trường hợp còn phản ánh sự dịch chuyển sớm sang thị trường lao động.

Từ thực tế đó, việc kiểm soát tỷ lệ bỏ học dưới 20% trở thành một bài toán không đơn giản, đòi hỏi các cơ sở đào tạo phải có chiến lược giữ chân người học mang tính hệ thống. Theo thầy Bình, yếu tố quan trọng hàng đầu là tăng cường sự quan tâm toàn diện tới người học, đặc biệt là nhóm có hoàn cảnh khó khăn - đối tượng dễ bị tác động bởi áp lực tài chính và có nguy cơ bỏ học cao. Việc đảm bảo đầy đủ các chế độ, chính sách hỗ trợ không chỉ mang ý nghĩa an sinh mà còn là giải pháp trực tiếp giúp duy trì sự gắn bó của người học với nhà trường.

ths-dang-an-binh-2847.jpg
Thạc sĩ Đặng An Bình - Hiệu trưởng Trường Cao đẳng nghề Kỹ thuật Công nghệ. Ảnh: website nhà trường.

Bên cạnh đó, việc đổi mới mô hình đào tạo theo hướng gắn kết chặt chẽ với doanh nghiệp được xem là giải pháp mang tính căn cơ. Khi sinh viên có cơ hội vừa học, vừa thực hành tại doanh nghiệp, thậm chí có thu nhập trong quá trình học, áp lực tài chính sẽ được giảm bớt, đồng thời tăng động lực học tập nhờ nhìn thấy rõ cơ hội việc làm. Đây cũng là cách để chuyển từ tư duy “giữ chân hành chính” sang “giữ chân bằng giá trị”, làm cho người học ở lại vì thấy việc học thực sự có ích và thiết thực.

Tại Trường Cao đẳng nghề Kỹ thuật Công nghệ, việc triển khai đồng bộ các giải pháp này đã mang lại hiệu quả rõ rệt, với tỷ lệ tuyển sinh hằng năm đạt từ 90% đến trên 100% kế hoạch, trong khi tỷ lệ bỏ học được kiểm soát ở mức 15-17%. Tuy nhiên, kết quả này không dễ dàng đạt được và khó có thể xem là chuẩn chung cho toàn hệ thống, nhất là với những cơ sở còn hạn chế về nguồn lực hoặc hoạt động ở địa bàn khó khăn.

Từ góc độ quản lý, thầy Bình cho rằng không nên áp dụng các chế tài xử phạt cứng đối với những trường chưa đạt ngưỡng tỷ lệ theo quy định. Bởi lẽ, việc duy trì quy mô tuyển sinh và giữ chân người học vốn đã là “bài toán sống còn” của mỗi cơ sở đào tạo, không cần thêm áp lực hành chính. Thay vào đó, cần xây dựng cơ chế đánh giá theo hướng linh hoạt và khuyến khích, chẳng hạn như đưa mức độ đạt các tiêu chí vào hệ thống thi đua, khen thưởng. Việc phân loại theo mức độ cải thiện sẽ phản ánh rõ hơn nỗ lực của từng đơn vị trong điều kiện cụ thể.

Có thể thấy, vấn đề không nằm ở việc đặt ra mục tiêu cao hay thấp mà ở cách tiếp cận chính sách. Nếu các chỉ số chỉ mang tính chuẩn hóa mà thiếu đi sự linh hoạt và hỗ trợ đi kèm rất dễ tạo áp lực ngược cho các cơ sở đào tạo. Ngược lại, nếu được thiết kế theo hướng vừa định hướng, vừa tạo động lực cải thiện, các chỉ số này hoàn toàn có thể trở thành công cụ thúc đẩy nâng cao chất lượng đào tạo và sự gắn bó của người học một cách bền vững.

Thúy Hiền