Trường cao đẳng trọng điểm CLC, chuẩn quốc tế: Tiêu chí đúng hướng, song chưa phân hóa rõ ràng

04/04/2026 06:24
Đình Nam

GDVN - Theo lãnh đạo một số cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cần thiết kế một hệ thống tiêu chí đủ linh hoạt để tạo động lực cạnh tranh cho các trường cao đẳng.

Bộ Giáo dục và Đào tạo đang lấy ý kiến cho dự thảo Đề án phát triển hệ thống trường cao đẳng trọng điểm chất lượng cao, đạt chuẩn quốc tế giai đoạn 2026-2035, với mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực kỹ năng nghề cao, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của đất nước.

Nội dung này đang nhận được sự quan tâm đặc biệt của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên cả nước.

Tiêu chí đánh giá đã đi đúng hướng, song chưa có sự phân hóa rõ ràng

Trao đổi với phóng viên Tạp chí điện tử Giáo dục Việt Nam, Thạc sĩ Trần Hữu Châu Giang - Quyền Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Công nghiệp Huế - một trong 10 trường cao đẳng chất lượng cao cho rằng, xét trên góc độ quản lý, bộ tiêu chí trong dự thảo nhìn chung đã đi đúng hướng, song vẫn còn thiên về tính “đồng đều”, chưa tạo được sự phân hóa rõ ràng giữa các cơ sở đào tạo tốt và những đơn vị thực sự xuất sắc.

Theo thầy Giang, các tiêu chí hiện nay chủ yếu dựa vào điều kiện đầu vào như cơ sở vật chất, đội ngũ hay hợp tác đào tạo, trong khi kinh nghiệm quốc tế lại đặt trọng tâm vào các chỉ số đầu ra và mức độ tác động, như khả năng gắn kết với doanh nghiệp, tỷ lệ việc làm của người học sau tốt nghiệp, mức thu nhập hay năng lực chuyển giao công nghệ.

Bên cạnh đó, nhiều tiêu chí vẫn mang tính định tính, dễ dẫn đến tình trạng “có là đạt”, thiếu các thang đo phân tầng cụ thể, khiến việc nhận diện thực chất chất lượng giữa các trường còn gặp khó khăn. Đồng thời, cách tiếp cận hiện nay vẫn nghiêng về chuẩn hóa hệ thống hơn là lựa chọn và đầu tư có trọng điểm.

z7679332329275-1de9156cceaffc3a06af214b01bcd625.jpg
Thạc sĩ Trần Hữu Châu Giang - Quyền Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Công nghiệp Huế. Ảnh: NVCC

Từ thực tiễn này, thầy Giang đề xuất cần bổ sung các chỉ số đầu ra cụ thể như tỷ lệ việc làm, thu nhập và mức độ tham gia của doanh nghiệp trong quá trình đào tạo; xây dựng hệ thống thang phân hạng rõ ràng thay vì chỉ dừng ở mức “đạt/không đạt”; đưa tiêu chí về “tác động hệ sinh thái” vào đánh giá; đồng thời phân định rành mạch giữa chuẩn tối thiểu và chuẩn vượt trội nhằm tạo động lực nâng cao chất lượng một cách thực chất.

Việc phân loại trường cao đẳng trọng điểm chất lượng cao trong dự thảo không nhằm thiết lập tiêu chí công nhận mới, mà được sử dụng phục vụ công tác quản lý, điều phối và ưu tiên đầu tư, làm cơ sở lựa chọn các trường tham gia lộ trình phát triển lên chuẩn quốc tế, bao gồm:

Cấp độ 1: Trường cao đẳng chất lượng cao có tối thiểu 08 chương trình chất lượng cao trình độ cao đẳng.

Cấp độ 2: Trường cao đẳng chất lượng cao có tối thiểu 05 chương trình chất lượng cao trình độ cao đẳng.

Cấp độ 3: Các trường cao đẳng chất lượng cao có tối thiểu 03 chương trình chất lượng cao trình độ cao đẳng.

Thạc sĩ Trần Hữu Châu Giang cho rằng việc phân cấp các cơ sở đào tạo dựa trên số lượng chương trình (có tối thiểu 3-5-8 chương trình) tuy thuận tiện cho công tác quản lý, nhưng chưa phản ánh đúng bản chất chất lượng, thậm chí có thể dẫn tới xu hướng “chạy theo số lượng”.

Theo thầy Giang, số lượng chương trình không đồng nghĩa với chất lượng đào tạo, mà chủ yếu thể hiện sự mở rộng quy mô, trong khi yếu tố cốt lõi phải là chiều sâu và hiệu quả thực chất. Thực tiễn quốc tế cho thấy nhiều cơ sở đào tạo chỉ tập trung vào một số ngành mũi nhọn nhưng vẫn đạt trình độ rất cao nhờ đầu tư chiều sâu, thay vì phát triển dàn trải.

Không những vậy, cách tiếp cận này tiềm ẩn nguy cơ làm lệch hướng đầu tư, khi các trường có thể mở nhanh chương trình theo xu hướng thị trường, phân tán nguồn lực, từ đó ảnh hưởng đến chất lượng sau kiểm định.

Ngoài ra, hệ tiêu chí vẫn nặng về yếu tố đầu vào, chưa gắn chặt với các chỉ số đầu ra bền vững, trong khi yếu tố quyết định lại nằm ở mức độ công nhận và niềm tin của doanh nghiệp đối với chương trình đào tạo.

“Từ thực tế này, tôi đề xuất cần giảm vai trò mang tính quyết định của tiêu chí số lượng chương trình; tăng trọng số cho chất lượng đầu ra và mức độ gắn kết với doanh nghiệp; bổ sung các tiêu chí phản ánh chiều sâu như kiểm định quốc tế, đào tạo tại doanh nghiệp và tỷ lệ việc làm sau tốt nghiệp; đồng thời cho phép những mô hình “ít ngành nhưng chất lượng cao, phát triển bền vững” vẫn có thể được xếp hạng ở mức cao trong hệ thống”, thầy Giang nhấn mạnh.

Đồng quan điểm, Tiến sĩ Vũ Quang Khuê - Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Công nghiệp Bắc Ninh khẳng định, ở giai đoạn trước, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (cũ) đã ban hành Thông tư 35/2021/TT-BLĐTBXH ngày 30/12/2021 quy định rõ tiêu chí và quy trình đánh giá, công nhận trường cao đẳng chất lượng cao.

Tuy nhiên, trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra mạnh mẽ cùng với sự chuyển dịch cơ cấu nguồn lao động, hệ thống tiêu chí này cần được tiếp tục bổ sung, hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu mới, phù hợp với mục tiêu của Chiến lược phát triển giáo dục nghề nghiệp cũng như Luật Giáo dục nghề nghiệp sửa đổi.

Đánh giá về dự thảo này, thầy Khuê cho rằng nội dung đã được xây dựng tương đối tổng quan, toàn diện, bám sát thực tiễn trong bối cảnh tái cấu trúc hệ thống và sáp nhập các cơ sở giáo dục nghề nghiệp hiện nay, đồng thời có sự tiếp cận với các tiêu chuẩn quốc tế trong chuẩn hóa giáo dục nghề nghiệp.

512895725-1295577822571599-4717284200711299898-n.jpg
Tiến sĩ Vũ Quang Khuê - Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Công nghiệp Bắc Ninh. Ảnh: website nhà trường.

“Việc định hướng và phân cấp thành 3 cấp độ để đánh giá, qua đó tạo lộ trình phát triển cho các cơ sở đào tạo nghề chất lượng cao, là phù hợp; tuy nhiên, đây chỉ nên được xem là một trong nhiều tiêu chí đánh giá.

Theo tôi, để bảo đảm tính thực chất, tiêu chuẩn cốt lõi đối với một trường cao đẳng chất lượng cao trước hết phải là năng lực đào tạo các ngành, nghề chất lượng cao; đồng thời cần bổ sung các tiêu chí về quy mô và cấp độ đào tạo đối với các ngành nghề này theo từng năm học.

Bên cạnh đó, hệ thống tiêu chí cũng cần mở rộng sang các ngành đào tạo đại trà, với những yêu cầu mới như chuẩn năng lực số, định hướng phát triển bền vững, chuyển đổi xanh và giáo dục toàn diện cho người học, qua đó góp phần nâng cao năng suất và chất lượng nguồn nhân lực cho thị trường lao động”, Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Bắc Ninh cho hay.

Cần một hệ thống tiêu chí và phân loại đủ linh hoạt để tạo động lực cạnh tranh

Theo dự thảo, trường cao đẳng đạt chuẩn quốc tế (bao gồm trường công lập và tư thục) là trường cao đẳng trọng điểm chất lượng cao đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo công nhận, có năng lực cạnh tranh vượt trội, tiếp cận trình độ các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới (trong đó, ưu tiên các ngành, lĩnh vực công nghệ chiến lược, ưu tiên quốc gia, như: Trí tuệ nhân tạo, Công nghệ điện toán đám mây, Công nghệ Blockchain, AI, Công nghệ robot và tự động hóa, Công nghệ chip bán dẫn, An ninh mạng....).

Đặc biệt, để được công nhận đạt chuẩn quốc tế, các trường cần đóng vai trò dẫn dắt, lan tỏa, đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp, có chức năng chính: Phát triển, chuyển giao chương trình đào tạo chất lượng cao, tiệm cận chuẩn quốc tế; Dẫn dắt đổi mới phương pháp đào tạo, quản trị và bảo đảm chất lượng; Tham gia đánh giá kỹ năng nghề, kiểm định, đánh giá chất lượng, Thúc đẩy hợp tác quốc tế, hỗ trợ nâng cao năng lực cho hệ thống giáo dục nghề nghiệp.

Ba cấp độ được xác định gồm:

Cấp độ 1: có tối thiểu 08 chương trình đạt tiêu chuẩn kiểm định chất lượng quốc tế.

Cấp độ 2: có tối thiểu 05 chương trình đạt tiêu chuẩn kiểm định chất lượng quốc tế.

Cấp độ 3: có tối thiểu 03 chương trình đạt tiêu chuẩn kiểm định chất lượng quốc tế.

Theo Thạc sĩ Trần Hữu Châu Giang, việc chuyển hướng sang đánh giá theo kết quả, năng lực và mức độ tác động là một bước đi đúng đắn. Tuy nhiên, theo thầy, hệ thống chỉ số hiện nay vẫn chưa đủ rõ ràng và khả thi để có thể triển khai đồng bộ trong toàn hệ thống.

Cụ thể, đối với tiêu chí “kiểm định quốc tế”, cần có quy định minh bạch về danh mục các tổ chức được công nhận cũng như cấp độ công nhận, nhằm tránh tình trạng mỗi cơ sở lựa chọn một chuẩn khác nhau, gây khó khăn trong so sánh và đánh giá.

Đồng thời, việc phân cấp dựa trên số lượng chương trình đào tạo (3-5-8) tuy thuận lợi về mặt đo đếm, nhưng chưa phản ánh đúng chất lượng thực chất; thay vào đó, cần chú trọng hơn đến hiệu quả sau kiểm định, thể hiện qua năng lực người học, cơ hội việc làm và mức độ ghi nhận từ phía doanh nghiệp.

Ngoài ra, các tiêu chí liên quan đến kết quả và tác động như việc làm quốc tế, hợp tác doanh nghiệp hay chuyển giao công nghệ hiện vẫn chưa được lượng hóa cụ thể, khiến các cơ sở đào tạo gặp khó trong việc xác định lộ trình đầu tư và phát triển. Tính khả thi của hệ thống tiêu chí cũng là một vấn đề đáng lưu ý, khi chi phí kiểm định còn cao và năng lực giữa các trường chưa đồng đều; nếu thiếu cơ chế hỗ trợ phù hợp, việc triển khai trên diện rộng sẽ gặp nhiều trở ngại.

Từ đó, thầy Giang đề xuất cần chuẩn hóa danh mục các tổ chức kiểm định quốc tế được công nhận; bổ sung các chỉ số đầu ra sau kiểm định; giảm sự lệ thuộc vào tiêu chí số lượng, đồng thời tăng trọng số cho hiệu quả thực tế; và đặc biệt là xây dựng lộ trình triển khai cùng cơ chế hỗ trợ rõ ràng nhằm bảo đảm tính khả thi và bền vững của chính sách.

486792559-1052876566879578-7750301348165568553-n.jpg
Sinh viên Trường Cao đẳng Công nghiệp Huế. Ảnh: website nhà trường

“Tôi cho rằng bài toán ở đây không chỉ là “đặt tiêu chí cao”, mà là thiết kế một hệ thống tiêu chí và phân loại đủ linh hoạt để vừa tạo động lực cạnh tranh, vừa không làm “đứt gãy” những trường có tiềm năng nhưng chưa kịp phát triển.

Theo tôi, điều quan trọng nhất là chuyển từ tư duy: “Chọn ra ai đạt chuẩn” sang “Tạo ra một hệ sinh thái để nhiều trường có thể phát triển theo các nấc thang khác nhau”.

Nếu làm được điều đó, chúng ta vừa có thể hình thành những trường đầu tàu đạt chuẩn quốc tế, vừa không bỏ lại phía sau những cơ sở có tiềm năng. Đây mới là cách tiếp cận bền vững và phù hợp với thực tiễn giáo dục nghề nghiệp Việt Nam hiện nay”, Quyền Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Công nghiệp Huế bày tỏ.

Trên cơ sở đó, thầy Giang đề xuất điều chỉnh hệ tiêu chí theo hướng cân bằng giữa “chuẩn” và “mở”. Đầu tiên, cần chuyển từ cách đánh giá “đạt/không đạt” sang mô hình phân tầng 3-4 cấp độ, có tiêu chí và lộ trình rõ ràng, nhằm tạo động lực phát triển cho cả các trường chưa đạt và những đơn vị đã có nền tảng tốt.

Thứ hai, hệ tiêu chí nên kết hợp giữa yếu tố “tĩnh” và “động”, bổ sung các chỉ số phản ánh quá trình cải thiện như tỷ lệ việc làm, hợp tác doanh nghiệp hay chuyển đổi chương trình theo chuẩn quốc tế, qua đó ghi nhận cả nỗ lực và tiềm năng phát triển. Thầy cũng nhấn mạnh cần giảm phụ thuộc vào số lượng chương trình, tăng trọng số cho chất lượng đầu ra và mức độ đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp.

Thứ ba, cần thiết kế cơ chế riêng cho nhóm “trường tiềm năng”, với chính sách hỗ trợ có điều kiện và đánh giá theo tiến độ, thay vì áp chuẩn cứng ngay từ đầu. Việc phân loại cũng cần gắn với quyền tự chủ và phân bổ nguồn lực để tạo động lực thực chất.

Cuối cùng, hệ thống nên được đánh giá định kỳ theo chu kỳ, với cơ chế lên - xuống linh hoạt nhằm thúc đẩy cạnh tranh và cải tiến liên tục.

Cùng góp ý về dự thảo này, cô Hồ Nguyễn Cúc Phương - Trưởng phòng, Phòng Đào tạo, Trường Cao đẳng Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, để tạo ra sự khác biệt thực chất trong hệ thống tiêu chí của dự thảo Đề án phát triển các trường cao đẳng trọng điểm chất lượng cao, đạt chuẩn quốc tế, cần thiết phải bổ sung theo hướng cấu trúc ba lớp đánh giá rõ ràng.

Trước hết, nhóm chỉ số đầu ra (outcome-based) cần được xác định là trọng tâm, với các tiêu chí định lượng cụ thể như tỷ lệ sinh viên có việc làm sau 6-12 tháng, mức lương trung vị theo ngành đào tạo, tỷ lệ người học làm việc tại các doanh nghiệp FDI hoặc doanh nghiệp công nghệ cao, cũng như số lượng kỹ năng đạt chuẩn quốc tế thông qua các chứng chỉ nghề. Đây được xem là nhóm chỉ số có khả năng tạo ra sự phân hóa mạnh mẽ nhất giữa các cơ sở đào tạo.

z6822698497437-efc35220106568cf210188cd980aff5c.jpg
Thạc sĩ Hồ Nguyễn Cúc Phương - Trưởng phòng, Phòng Đào tạo, Trường Cao đẳng Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh: NVCC

Ngoài ra, cần bổ sung nhóm tiêu chí về mức độ gắn kết với doanh nghiệp, phản ánh thực chất mối liên kết giữa nhà trường và thị trường lao động, thông qua tỷ lệ chương trình đào tạo theo mô hình “đào tạo kép”, thời lượng học tập tại doanh nghiệp, cũng như mức độ tham gia của doanh nghiệp trong xây dựng chương trình và đánh giá người học.

Lớp tiêu chí thứ ba là năng lực dẫn dắt hệ thống, nhằm nhận diện những cơ sở có vai trò “trọng điểm” thực sự. Theo đó, cần xem xét khả năng chuyển giao mô hình đào tạo cho các đơn vị khác, vai trò trong đào tạo, bồi dưỡng giảng viên và xây dựng chuẩn nghề, cũng như mức độ tham gia vào quá trình xây dựng tiêu chuẩn ở cấp quốc gia hoặc quốc tế.

Từ các đề xuất trên, cô Phương kiến nghị cần đổi mới cấu trúc đánh giá theo hướng chuyển từ cơ chế “đạt/không đạt” sang xếp hạng theo thang điểm, đồng thời phân tầng rõ ràng giữa các mức: nhóm dẫn đầu đạt chuẩn quốc tế, nhóm khá đạt chuẩn quốc gia nâng cao và nhóm đạt chuẩn tối thiểu. Song song đó, nên áp dụng các chuẩn tham chiếu quốc tế của những quốc gia có hệ thống giáo dục nghề nghiệp phát triển như Đức, Úc hay Singapore đối với một số ngành nghề trọng điểm.

Đình Nam