Giải pháp công nghệ để đưa Tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong giáo dục đại học

03/04/2026 19:53
Khánh Hòa

GDVN - Công nghệ và chuyển đổi số là nền tảng đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai, tuy nhiên vẫn còn nhiều rào cản về hạ tầng và triển khai.

Ngày 3/4, nhằm thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức Hội thảo quốc gia với chủ đề “Giải pháp công nghệ trong thực hiện chủ trương đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong giáo dục đại học”. Hội thảo diễn ra tại Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội.

Trong bối cảnh đó, hội thảo tập trung vào việc đổi mới tư duy đào tạo và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, nhất là trí tuệ nhân tạo (AI), nhằm giải quyết bài toán nâng cao năng lực ngoại ngữ trong kỷ nguyên số.

Hội thảo đã nhận được gần 50 bài viết tham luận của các cơ quan Trung ương và nhiều cơ sở giáo dục đại học, các chuyên gia trong nước và quốc tế. Kỷ yếu Hội thảo sẽ là tài liệu tham khảo cho công tác quản lý, theo dõi và tham mưu của các cơ quan Trung ương, các cơ sở giáo dục đại học trong cả nước.

dsc03489.jpg
Quang cảnh hội thảo.

Nỗ lực đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai

Phát biểu tại hội thảo, ông Đặng Văn Huấn - Phó Vụ trưởng Vụ Giáo dục Đại học, Bộ Giáo dục và Đào tạo cho biết, kết quả khảo sát việc tổ chức dạy, học tiếng Anh và chuyển đổi số đối với 92 trường đại học, cao đẳng cho thấy, các chương trình giảng dạy chuyên ngành bằng tiếng Anh đang tăng nhanh, chuẩn đầu ra được đặt ở mức khá cao (tương đương B2-C1). Tuy nhiên, năng lực đầu vào và động lực học tập của sinh viên còn chênh lệch giữa các vùng miền.

Bên cạnh đó, việc sử dụng hệ thống quản lý học tập (LMS) đã trở nên khá phổ biến, một số trường bắt đầu đưa trí tuệ nhân tạo (AI) và thực tế ảo vào giảng dạy, thiết kế bài giảng. Tuy nhiên, sự chênh lệch về hạ tầng vẫn còn khá lớn, các trường quy mô nhỏ hoặc cao đẳng sư phạm gặp khó khăn về kinh phí, chủ yếu sử dụng nền tảng miễn phí, các phòng thực hành (lab) chưa được khai thác hiệu quả.

Từ thực tiễn đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo đang hoàn thiện kế hoạch triển khai đề án trong giai đoạn tới, tập trung xây dựng bộ tiêu chí đánh giá, phát triển nền tảng học liệu dùng chung và tăng cường hỗ trợ các cơ sở đào tạo về đội ngũ, hạ tầng và môi trường sử dụng tiếng Anh trong giảng dạy, nghiên cứu.

Cùng trong khuôn khổ hội thảo, ông Vũ Thanh Mai - Phó Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương khẳng định, việc đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai là một bước chuyển quan trọng về tư duy, từ việc tiếp cận ngoại ngữ như một môn học thuần túy sang coi đây là công cụ để tiếp cận, sáng tạo tri thức và hội nhập quốc tế. Mặc dù hệ thống giáo dục đã có nhiều nỗ lực, thực trạng hiện nay cho thấy việc ứng dụng công nghệ vẫn còn phân tán, thiếu đồng bộ và chưa hình thành được các nền tảng số quy mô lớn.

Để giải quyết triệt để vấn đề này, ông Vũ Thanh Mai đã đưa ra 6 định hướng trọng tâm gồm tiếp cận liên ngành ở tầm quốc gia, xây dựng hệ sinh thái giáo dục đại học song ngữ; phát triển nền tảng công nghệ quốc gia, phát triển đội ngũ giảng viên, cơ chế phối hợp Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp, xây dựng lộ trình triển khai khả thi.

dsc03498.jpg
Ông Vũ Thanh Mai - Phó Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương.

Giải pháp tích hợp AI và chuyển đổi vai trò giảng viên

Tại hội thảo, bà Nguyễn Thị Ngọc Lan - Chủ tịch công ty Cổ phần Five-Star E-Learning - FSEL đã có bài phát biểu thu hút sự quan tâm. Theo Chủ tịch công ty Cổ phần Five-Star E-Learning - FSEL, hiện tại còn tồn tại khoảng cách lớn giữa chuẩn đầu vào và đầu ra trong đào tạo ngoại ngữ. Trong khi chuẩn đầu ra yêu cầu sinh viên đạt trình độ B1 (đại học) và B2 (sau đại học), nhưng qua khảo sát thực tế cho thấy, có những trường tới 70% sinh viên đầu vào chỉ ở mức A0. Với quỹ thời gian khoảng 200 giờ học trên lớp, việc yêu cầu giảng viên giảng dạy một lớp từ 50-60 sinh viên có trình độ không đồng đều cùng đạt chuẩn đầu ra là rất khó khả thi.

Ngoài ra, dù công nghệ có thể thay thế việc giảng dạy thuần túy, nhưng chỉ khoảng 10-20% sinh viên Việt Nam có khả năng tự học hiệu quả. Vì vậy, nếu chỉ cung cấp phần mềm mà thiếu sự hỗ trợ, định hướng từ giảng viên, nguy cơ thất bại là rất cao, khi tỷ lệ sinh viên đạt được mục tiêu có thể chỉ dừng ở khoảng 20%.

Từ những bất cập trên, Chủ tịch công ty Cổ phần Five-Star E-Learning - FSEL đề xuất, cần tích hợp công nghệ vào chương trình chính khóa. Theo đó, công nghệ (như FSEL) phải được đưa vào chương trình học chính thức của nhà trường, có điểm danh, tính học phần để cá nhân hóa lộ trình cho từng sinh viên.

Cùng với đó, công nghệ sẽ đảm nhiệm việc cung cấp kiến thức theo hướng cá nhân hóa, còn giảng viên chuyển sang vai trò "mentor" (người hướng dẫn, giám sát và truyền cảm hứng cho người học). Cách tiếp cận này không chỉ nâng cao hiệu quả đào tạo mà còn giúp giảng viên giảm áp lực khi phải đứng lớp với những nhóm sinh viên có trình độ không đồng đều.

FSEL sẵn sàng cung cấp công cụ khảo sát, đánh giá miễn phí và hỗ trợ nhà trường xây dựng lộ trình nâng chuẩn giáo viên lên B2, C1 để họ có thể giảng dạy các môn chuyên ngành bằng tiếng Anh.

atlantic.jpg
Bà Nguyễn Thị Ngọc Lan - Chủ tịch công ty Cổ phần Five-Star E-Learning - FSEL phát biểu tại hội thảo.

Bà Ngọc Lan nhận định, hiện nay nhiều trường đại học có hệ thống LMS, nhưng mới chỉ dừng ở việc "chuyển đổi kho học liệu từ môi trường vật lý lên môi trường công nghệ". Các trường chưa thực sự chuyển đổi được các "điểm tiếp xúc học tập" cốt lõi, bao gồm: trải nghiệm giao diện (UI/UX), quy trình tuyển sinh, mở lớp, giao dự án, tương tác với giáo viên và đánh giá kết quả.

Vì vậy, Chủ tịch công ty Cổ phần Five-Star E-Learning - FSEL kiến nghị, cần sớm hoàn thiện hành lang pháp lý từ phía Bộ Giáo dục và Đào tạo. Theo bà, hiện các trường đại học còn nhiều dè dặt trong việc tiếp cận và đề xuất giải pháp mới; do đó, cần có cơ chế, chính sách rõ ràng để khuyến khích các trường chủ động hợp tác với doanh nghiệp EdTech, xem đây là đối tác cùng tham gia giải quyết các bài toán chung của giáo dục.

Ngoài ra, khi áp dụng công nghệ sâu (như dữ liệu đám mây, AI), các trường phải đối diện với chi phí duy trì thực tế. Do đó, các trường cần tính toán phương án tài chính dài hạn, trong đó có thể cân nhắc điều chỉnh học phí ở mức phù hợp nhằm tạo nguồn lực đầu tư, bảo đảm việc ứng dụng công nghệ hiện đại phục vụ người học một cách bền vững.

dsc03629.jpg
Các chuyên gia chia sẻ kinh nghiệm, giải pháp tại tọa đàm.

Tại tọa đàm, các chuyên gia cũng chia sẻ kinh nghiệm, giải pháp, lộ trình từng bước đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học, trong đó nêu những khó khăn, thách thức đồng thời khẳng định không thể thiếu sự hỗ trợ của công nghệ trong dạy và học đạt hiệu quả.

Khánh Hòa