Phát huy vai trò công tác tuyên giáo và dân vận - Nâng tầm GD quốc dân theo tinh thần Đại hội XIV

07/04/2026 09:14
Lê Huy Nam - Vụ trưởng Vụ Giáo dục, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương

GDVN - Công tác tuyên giáo cần làm rõ nội hàm của nền giáo dục “mở, thực học, thực nghiệp.

Giáo dục và đào tạo – quốc sách hàng đầu trong giai đoạn phát triển mới

Trong mọi giai đoạn phát triển của đất nước, giáo dục và đào tạo luôn giữ vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển quốc gia. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, khi cạnh tranh giữa các quốc gia ngày càng chuyển mạnh sang cạnh tranh về tri thức, công nghệ và chất lượng nguồn nhân lực, giáo dục và đào tạo không chỉ là quốc sách hàng đầu mà còn trở thành yếu tố quyết định vị thế của mỗi dân tộc trong tiến trình phát triển.

Văn kiện Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định nhất quán quan điểm: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, là yếu tố quyết định để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển con người Việt Nam toàn diện”. Đây không chỉ là sự kế thừa tư duy chiến lược của các kỳ Đại hội trước mà còn là bước phát triển mới trong nhận thức lý luận của Đảng, khi đặt giáo dục vào vị trí trung tâm của chiến lược phát triển đất nước trong thời kỳ mới. Cách tiếp cận này cho thấy giáo dục không chỉ dừng lại ở việc nâng cao dân trí hay truyền thụ tri thức, mà phải trực tiếp tạo ra nguồn nhân lực có khả năng thích ứng nhanh với sự biến đổi của thời đại, có năng lực sáng tạo, tư duy độc lập và đủ sức tham gia vào môi trường cạnh tranh toàn cầu.

tong-bi-thu-to-lam-va-cac-em-hoc-sinh-17698425338721375993663.jpg
Tổng Bí thư Tô Lâm và các em học sinh tại buổi lễ khánh thành Trường phổ thông nội trú liên cấp tiểu học và trung học cơ sở Si Pa Phìn (xã Si Pa Phìn, Điện Biên) vào ngày 31/1/2026.

Vai trò “quốc sách hàng đầu” của giáo dục được thể hiện trước hết ở việc giáo dục là nền tảng của phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Có thể nói, chất lượng giáo dục hôm nay chính là năng lực cạnh tranh của quốc gia ngày mai. Trong bối cảnh chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu, từ dựa vào tài nguyên và lao động giá rẻ sang dựa vào tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo, chất lượng nguồn nhân lực trở thành yếu tố quyết định đối với sự phát triển bền vững của đất nước. Theo Ngân hàng Thế giới, chỉ số vốn nhân lực của Việt Nam (HCI) đạt khoảng 0,69 - một con số cho thấy tiềm năng phát triển lớn nhưng cũng đặt ra yêu cầu phải tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục để bắt kịp các quốc gia tiên tiến trong khu vực. Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh nhiệm vụ “phát triển mạnh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”. Điều này cho thấy giáo dục và đào tạo không còn là một lĩnh vực xã hội đơn thuần mà đã trở thành yếu tố trực tiếp quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia.

Không chỉ vậy, giáo dục và đào tạo còn là động lực quan trọng của đổi mới sáng tạo và phát triển khoa học, công nghệ. Một nền giáo dục hiện đại không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ tri thức mà còn phải nuôi dưỡng tư duy sáng tạo, tinh thần khởi nghiệp và năng lực nghiên cứu khoa học. Đại hội XIV xác định rõ yêu cầu phải “gắn kết chặt chẽ giữa giáo dục, đào tạo với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số”. Điều này đặt ra yêu cầu giáo dục phải trở thành trung tâm của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia, nơi hình thành, ươm tạo và phát triển các ý tưởng, công nghệ và giải pháp mới cho sự phát triển đất nước.

Ở góc độ phát triển con người, giáo dục và đào tạo giữ vai trò đặc biệt trong việc hình thành nhân cách, đạo đức, lối sống và ý thức công dân. Một nền giáo dục đúng nghĩa không chỉ đào tạo người lao động có tay nghề mà còn bồi dưỡng những công dân có trách nhiệm xã hội, có bản lĩnh chính trị và có khả năng thích ứng với những biến đổi của thời đại. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, giáo dục còn phải góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, đồng thời tiếp thu tinh hoa văn hóa và tri thức của nhân loại.

Giáo dục và đào tạo cũng là yếu tố quyết định sự phát triển bền vững và độc lập, tự chủ của quốc gia. Một đất nước muốn phát triển nhanh và bền vững không thể chỉ dựa vào nguồn lực bên ngoài mà phải dựa vào nội lực, trong đó con người là yếu tố trung tâm. Giáo dục và đào tạo chính là con đường cơ bản để nâng cao nội lực đó. Đại hội XIV nhấn mạnh yêu cầu “phát huy mạnh mẽ nội lực, đặc biệt là nguồn lực con người”. Điều này càng khẳng định giáo dục và đào tạo giữ vai trò chiến lược đối với tương lai phát triển của đất nước.

Để giáo dục và đào tạo thực sự trở thành quốc sách hàng đầu theo đúng nghĩa, không chỉ cần có chủ trương đúng mà còn cần có sự vào cuộc mạnh mẽ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Đây cũng chính là cơ sở để khẳng định vai trò quan trọng của công tác tuyên giáo và dân vận trong việc định hướng nhận thức xã hội, tạo đồng thuận và huy động các nguồn lực cho sự phát triển giáo dục trong giai đoạn mới.

vi-mach-2-1693529093375.jpg
Ảnh minh họa.

Thành tựu và những điểm nghẽn của giáo dục Việt Nam

Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đánh giá: giáo dục và đào tạo tiếp tục được quan tâm đầu tư, có bước phát triển cả về quy mô, mạng lưới và chất lượng; góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trước hết, về quy mô và mạng lưới giáo dục, hệ thống giáo dục quốc dân tiếp tục được mở rộng, bảo đảm cơ hội học tập cho mọi người dân. Tính đến năm học 2024 - 2025, quy mô giáo dục Việt Nam đạt khoảng 25 - 25,6 triệu người học ở các cấp học. Mạng lưới giáo dục phát triển rộng khắp với gần 54.000 cơ sở giáo dục, từ bậc mầm non đến đại học, bảo đảm cơ hội tiếp cận giáo dục cho người dân từ đô thị đến vùng sâu, vùng xa. Việt Nam tiếp tục duy trì vững chắc kết quả phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở trên phạm vi cả nước, đồng thời từng bước hoàn thiện mục tiêu phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi. Tỷ lệ biết chữ của người từ 15 tuổi trở lên duy trì ở mức khoảng 95%, thuộc nhóm cao trong các quốc gia có thu nhập trung bình.

Trên bình diện quốc tế, giáo dục Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Theo các kỳ đánh giá PISA của OECD, học sinh Việt Nam nhiều năm liền đạt kết quả cao hơn mức trung bình của các nước OECD ở các môn Toán và Khoa học. Điều này phản ánh hiệu quả của việc chú trọng giáo dục cơ bản và các môn khoa học nền tảng. Chương trình giáo dục phổ thông 2018 đánh dấu bước chuyển quan trọng từ giáo dục nặng về truyền thụ kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Các lĩnh vực như giáo dục STEM, giáo dục kỹ năng sống, giáo dục hướng nghiệp được chú trọng hơn. Một số trường đại học của Việt Nam đã có mặt trong các bảng xếp hạng quốc tế, từng bước nâng cao vị thế của giáo dục đại học Việt Nam trên trường quốc tế.

Bên cạnh đó, công tác tự chủ đại học được triển khai, tạo động lực đổi mới quản trị và nâng cao chất lượng đào tạo. Giáo dục nghề nghiệp có những chuyển biến tích cực, gắn kết hơn với nhu cầu thị trường lao động. Nhà nước cũng đã ban hành nhiều chính sách ưu tiên đối với vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, góp phần thu hẹp khoảng cách tiếp cận giáo dục giữa các vùng miền.

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, giáo dục Việt Nam vẫn tồn tại nhiều “điểm nghẽn” chưa được giải quyết triệt để. Văn kiện Đại hội XIV thẳng thắn chỉ ra nhiều hạn chế của giáo dục nước ta.

Trước hết, chất lượng giáo dục chưa đồng đều và chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu phát triển. Mặc dù có nhiều điểm sáng, nhưng nhìn chung chất lượng giáo dục vẫn còn khoảng cách so với các quốc gia tiên tiến trong khu vực. Sự chênh lệch giữa các vùng miền, giữa các cơ sở giáo dục vẫn còn đáng kể. Giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp chưa thực sự gắn chặt với nhu cầu thị trường lao động. Tình trạng “thừa thầy, thiếu thợ” vẫn tồn tại, phản ánh sự mất cân đối trong cơ cấu đào tạo.

Bên cạnh đó, đổi mới giáo dục còn chậm và thiếu đồng bộ. Phương pháp dạy học ở nhiều nơi vẫn nặng về truyền thụ kiến thức, chưa phát huy đầy đủ tính chủ động và sáng tạo của người học. Việc kiểm tra, đánh giá còn nặng về thi cử, chưa phản ánh đúng năng lực thực chất, bệnh thành tích vẫn còn tồn tại. Đội ngũ giáo viên ở một số địa phương còn thiếu, đặc biệt là giáo viên các môn học mới theo chương trình giáo dục phổ thông. Chất lượng đội ngũ chưa đồng đều; chế độ đãi ngộ chưa tương xứng cũng ảnh hưởng đến động lực nghề nghiệp. Nguồn lực đầu tư cho giáo dục ở nhiều nơi vẫn còn hạn chế. Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học ở nhiều địa phương, đặc biệt là vùng khó khăn, còn thiếu và lạc hậu.

Ngoài ra, tâm lý coi trọng bằng cấp, chạy theo thành tích, chưa coi trọng kỹ năng và năng lực thực tiễn vẫn tồn tại khá phổ biến trong xã hội. Đây là rào cản lớn đối với quá trình đổi mới giáo dục theo hướng hiện đại, thực học, thực nghiệp.

nghien-cuu.jpg
Ảnh minh họa.

Nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm của ngành Tuyên giáo và Dân vận

Trước những yêu cầu đặt ra đối với sự nghiệp giáo dục và đào tạo, ngành Tuyên giáo và Dân vận cần phát huy đầy đủ vai trò là cơ quan tham mưu chiến lược của Đảng trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa và khoa giáo, đồng thời là lực lượng nòng cốt trong công tác vận động quần chúng.

Trước hết, cần tập trung tham mưu hoàn thiện đường lối, chủ trương của Đảng về giáo dục trong bối cảnh mới. Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi số và kinh tế tri thức đang làm thay đổi sâu sắc mô hình giáo dục trên thế giới. Do đó, ngành Tuyên giáo và Dân vận cần chủ động nghiên cứu, tổng kết thực tiễn trong nước và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế để tham mưu Bộ Chính trị, Ban Bí thư ban hành các chủ trương, định hướng chiến lược về giáo dục đến năm 2035, tầm nhìn 2045.

Bên cạnh đó, cần tăng cường định hướng tư tưởng, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức xã hội về giáo dục hiện đại. Công tác tuyên giáo cần làm rõ nội hàm của nền giáo dục “mở, thực học, thực nghiệp”, nhấn mạnh yêu cầu chuyển từ truyền thụ kiến thức sang phát triển năng lực người học.

Một nhiệm vụ quan trọng khác là chủ động nắm bắt và dự báo dư luận xã hội liên quan đến giáo dục và đào tạo. Trong bối cảnh mạng xã hội phát triển mạnh, mọi thay đổi trong chính sách giáo dục đều có thể nhanh chóng trở thành vấn đề được quan tâm rộng rãi, thậm chí gây tranh luận trái chiều. Do đó, ngành Tuyên giáo và Dân vận cần xây dựng hệ thống theo dõi dư luận xã hội một cách khoa học, kịp thời, chủ động cung cấp thông tin chính thống và định hướng dư luận xã hội theo hướng tích cực.

Song song với đó, cần đẩy mạnh công tác dân vận, phát huy vai trò của nhân dân trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo. Giáo dục và đào tạo không chỉ là trách nhiệm của Nhà nước mà còn là sự nghiệp của toàn dân. Các phong trào khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập cần được củng cố và phát triển sâu rộng. Hiện nay, cả nước có hơn 20 triệu hội viên Hội Khuyến học, đây là lực lượng xã hội to lớn cần được huy động hiệu quả. Ngoài ra, cần tăng cường phối hợp giữa ngành Tuyên giáo và Dân vận với các bộ, ngành liên quan trong việc xây dựng và triển khai các chính sách giáo dục, bảo đảm tính thống nhất của Đảng.

Trong bối cảnh thông tin đa chiều, việc chủ động đấu tranh với các quan điểm sai trái, thông tin xuyên tạc về giáo dục cũng là nhiệm vụ quan trọng nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và củng cố niềm tin xã hội. Cần chú trọng công tác tổng kết thực tiễn và nhân rộng các mô hình giáo dục hiệu quả. Việc phát hiện, tổng kết và lan tỏa các mô hình tốt như giáo dục STEM, trường học thông minh, chuyển đổi số trong giáo dục sẽ góp phần thúc đẩy đổi mới giáo dục một cách thực chất và bền vững.

Xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại không chỉ là yêu cầu phát triển mà còn là vấn đề sống còn của dân tộc trong thời đại cạnh tranh tri thức. Trong tiến trình đó, công tác Tuyên giáo và Dân vận giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc định hướng nhận thức xã hội, tạo đồng thuận và khơi dậy khát vọng phát triển. Khi tư tưởng được thống nhất, niềm tin được củng cố và hành động được đồng bộ, nền giáo dục Việt Nam sẽ có đủ điều kiện để vươn lên ngang tầm khu vực và thế giới.

Lê Huy Nam - Vụ trưởng Vụ Giáo dục, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương