Ngày 9/4/2026, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư 23/2026/TT-BGDĐT quy định mã số, chuẩn nghề nghiệp, bổ nhiệm chức danh và xếp lương đối với giáo viên cơ sở giáo dục thường xuyên.
Thông tư 23/2026/TT-BGDĐT quy định chuẩn nghề nghiệp giáo viên tại trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên và các cơ sở giáo dục khác thực hiện Chương trình giáo dục thường xuyên cấp trung học cơ sở, Chương trình giáo dục thường xuyên cấp trung học phổ thông, bao gồm: mã số, nhiệm vụ, chuẩn nghề nghiệp, bổ nhiệm chức danh và xếp lương theo hạng của chức danh giáo viên giáo dục thường xuyên. Thông tư có hiệu lực thi hành từ ngày 9/4/2026.
Theo Thông tư, mã số chức danh giáo viên giáo dục thường xuyên gồm: Hạng III - Mã số V.07.05.18; Hạng II - Mã số V.07.05.17; Hạng I - Mã số V.07.05.16.
Giáo viên hạng I phải có trình độ thạc sĩ trở lên
Theo Thông tư, giáo viên giáo dục thường xuyên phải đạt 3 loại tiêu chuẩn gồm tiêu chuẩn về đạo đức, tiêu chuẩn trình độ đào tạo, bồi dưỡng và tiêu chuẩn về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ.
Với tiêu chuẩn đạo đức, giáo viên phải chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và các quy định của ngành giáo dục. Đồng thời giữ gìn phẩm chất, uy tín, đạo đức nhà giáo; nêu gương trong nghề nghiệp và ứng xử xã hội; bảo đảm liêm chính học thuật; tôn trọng, đối xử công bằng và bảo vệ quyền lợi chính đáng của người học.
Bên cạnh đó, giáo viên cần tuân thủ quy tắc ứng xử, nội quy của cơ sở giáo dục và không vi phạm các điều cấm đối với nhà giáo theo quy định.
Về tiêu chuẩn trình độ đào tạo, bồi dưỡng, đối với giáo viên hạng III, phải có bằng cử nhân trở lên thuộc ngành đào tạo giáo viên phù hợp với môn học giảng dạy; hoặc có bằng cử nhân trở lên chuyên ngành phù hợp với môn học giảng dạy và có chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm đối với giáo viên trung học phổ thông.
Riêng trường hợp giáo viên giảng dạy môn Tiếng dân tộc thiểu số phải đáp ứng trình độ chuẩn được đào tạo theo quy định tại khoản 4 Điều 20 Nghị định số 93/2026/NĐ-CP.
Giáo viên hạng III cũng phải có chứng chỉ bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp giáo viên cơ sở giáo dục thường xuyên. Giáo viên hạng II có yêu cầu về trình độ đào tạo tương tự.
Về phía giáo viên hạng I, Thông tư quy định phải có bằng thạc sĩ trở lên thuộc ngành đào tạo giáo viên hoặc có bằng thạc sĩ trở lên chuyên ngành phù hợp với môn học giảng dạy và có chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm đối với giáo viên trung học phổ thông; Có chứng chỉ bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp giáo viên cơ sở giáo dục thường xuyên.
Giáo viên hạng II phải có thành tích cấp cơ sở, giáo viên hạng I đạt thành tích cấp tỉnh
Tiêu chuẩn về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của giáo viên cơ sở giáo dục thường xuyên được Thông tư nêu rõ và có sự khác biệt giữa các hạng.
Giáo viên hạng III phải nắm vững kiến thức môn học, chương trình đào tạo; Hiểu biết đặc điểm tâm lý, sinh lý, nhu cầu học tập người học; Thực hiện được phương pháp dạy học đa dạng; Thiết lập được mối quan hệ hợp tác với phụ huynh... Đặc biệt, giáo viên phải ứng dụng được công nghệ thông tin, công nghệ số trong hoạt động nghề nghiệp; Sử dụng được ngoại ngữ hoặc tiếng dân tộc thiểu số phục vụ hoạt động nghề nghiệp nếu vị trí việc làm yêu cầu.
Với giáo viên hạng II, Thông tư yêu cầu cao hơn. Giáo viên phải có khả năng nắm vững và mở rộng được kiến thức, cập nhật được xu hướng phát triển của chương trình giáo dục thường xuyên và đặc biệt hiểu biết sâu sắc về đặc điểm tâm lý, sinh lý của người học. Giáo viên hạng II cũng phải đạt được các thành tích từ cấp cơ sở trở lên trong hoạt động nghề nghiệp.
Riêng giáo viên hạng I, phải có kiến thức chuyên sâu về môn học và lĩnh vực được phân công giảng dạy; Hiểu biết về xây dựng, phát triển chương trình giáo dục, đào tạo; dự báo được xu hướng phát triển giáo dục thường xuyên; Thành thục các kỹ năng, phương pháp tư vấn học đường và thực hiện công tác xã hội trong trường học.
Ngoài ra, giáo viên cần thúc đẩy, truyền cảm hứng cho người học tiến bộ trong học tập; Điều chỉnh có hiệu quả hoạt động kiểm tra, đánh giá tại cơ sở giáo dục thường xuyên; cập nhật, hướng dẫn đồng nghiệp về đổi mới kiểm tra, đánh giá; Tạo dựng được mối quan hệ lành mạnh, tin tưởng với phụ huynh và các tổ chức, cá nhân có liên quan, mở rộng hoạt động đào tạo, bồi dưỡng của cơ sở giáo dục thường xuyên.
Bên cạnh đó tạo dựng được uy tín nghề nghiệp, có khả năng truyền cảm hứng, tạo động lực cho đồng nghiệp phát triển trong hoạt động nghề nghiệp; sẵn sàng chia sẻ, hỗ trợ đồng nghiệp; Ứng dụng được công nghệ thông tin, công nghệ số trong hoạt động nghề nghiệp, sử dụng được ngoại ngữ hoặc tiếng dân tộc thiểu số phục vụ hoạt động nghề nghiệp (nếu vị trí việc làm yêu cầu).
Đặc biệt giáo viên hạng I phải đạt được các thành tích từ cấp tỉnh trở lên trong hoạt động nghề nghiệp.
Hệ số lương cao nhất là 6,78, thấp nhất là 2,34
Giáo viên được bổ nhiệm chức danh giáo viên giáo dục thường xuyên theo quy định tại Thông tư này được áp dụng bảng lương tương ứng ban hành kèm theo Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang. Cụ thể:
Hạng III - Mã số V.07.05.18, được áp dụng hệ số lương của viên chức loại A1 từ hệ số lương 2,34 đến hệ số lương 4,98;
Hạng II - Mã số V.07.05.17, được áp dụng hệ số lương của viên chức loại A2, nhóm A2.2 từ hệ số lương 4,00 đến hệ số lương 6,38;
Hạng I - Mã số V.07.05.16, được áp dụng hệ số lương của viên chức loại A2, nhóm A2.1 từ hệ số lương 4,40 đến hệ số lương 6,78.
Việc xếp lương đối với chức danh giáo viên giáo dục thường xuyên thực hiện theo hạng, chức danh tại Thông tư này và hướng dẫn tại Thông tư số 02/2007/TT-BNV hướng dẫn xếp lương khi nâng ngạch, chuyển ngạch, chuyển loại công chức, viên chức và theo quy định hiện hành của pháp luật. Khi thực hiện chính sách tiền lương mới, việc chuyển xếp sang lương mới thực hiện theo quy định của Chính phủ.
Ngoài ra, việc xếp lương đối với giáo viên giáo dục thường xuyên trong cơ sở giáo dục thường xuyên ngoài công lập thực hiện theo thoả thuận giữa giáo viên với cơ sở giáo dục nhưng không thấp hơn so với mức của ba hạng nêu trên.
Chi tiết Thông tư xem TẠI ĐÂY.